Bí tích Hòa Giải, môt hồng ân tuyệt vời

Ý nghĩa của Bí tích Giao Hòa.
Trong các mối quan hệ, con người cần những dấu hiệu nói lên mối tương quan giữa hai bên. Đặc biệt trong tình yêu, con người cần những hình thức và hành động cụ thể thể hiện lòng thành kính hay yêu mến. Thiên Chúa yêu con người, Ngài tỏ lộ tình yêu ấy qua chính con người Ngài và qua các hồng ân ban tặng. Ngài còn tiếp tục mặc khải cho người thấy qua các bí tích, “là dấu chỉ bên ngoài Đức Giêsu đã lập để ban ơn thánh cho con người” (SGLCG).

Giáo Hội Công Giáo cử hành bảy bí tích. Một trong những bí tích ấy là bí tích Hòa giải hay bí tích Giao hòa, bí tích Giải tội.

Cuộc hành trình về Quê Trời của người Kytô hữu là một chặng đường dài. Sự sống phần hồn và phần xác luôn bị đe dọa. Bởi thế, Đức Giêsu đã ban cho con người các bí tích phục hồi nhằm giúp con người chiến thắng sự dữ và chữa lành bệnh tật. Nếu bí tích xức dầu bệnh nhân cho con người thêm sức mạnh để chiến đấu với bệnh tật và can đảm vượt qua ngưỡng cửa tử thần để tiến vào Đất Hứa trong an bình, thì Bí tích hòa giải giúp con người phục hồi đời sống hiệp thông bị cắt đứt do tội lỗi.

Chính Đức Giêsu đã lập nên bí tích hòa giải và trao quyền lại cho Giáo hội qua các thánh tông đồ “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần, anh em tha tội ai thì tội người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai thì tội người ấy bị cầm giữ” (Ga 20, 22-23). Chính “Đức Kytô đã muốn toàn thể Hội Thánh của Người, trong kinh nguyện, đời sống và các hoạt động của mình, là dấu chỉ và dụng cụ cho ơn tha thứ và giao hòa mà Người đã thủ đắc cho chúng ta, bằng máu châu báu của Người. Tuy nhiên Người đã ủy thác việc thực thi quyền tha tội cho thừa tác vụ Tông Đồ. Chính thừa tác vụ này đã lãnh nhận “chức vụ giao hòa” (2Cor 5,18). Vị Tông Đồ được sai đi nhân danh Đức Kitô, và chính Thiên Chúa, qua vị Tông Đồ, khuyên bảo và nài xin: “Hãy làm hòa cùng Thiên Chúa” (2Cor 5,20) (SGLCG).

Dọc theo dòng lịch sử, hình thức cử hành “chức vụ giao hòa” trao phó bởi Đức Giêsu trong Giáo hội có rất nhiều biến đổi quan trọng. Giáo hội sơ khai không chấp nhận sự hoán cải nào ngoài sự hoán cải để lãnh nhận Bí tích rửa tội. Người Kytô hữu nếu phạm tội trọng (ngoại tình, chối đạo, giết người) sẽ bị trục xuất khỏi cộng đồng tín hữu.

Kỷ luật xá giải được áp dụng từ TK II, Giáo hội chấp nhận sự hoán cải của các hối nhân, trừ những người phạm tội ngoại tình, chối đạo và giết người, song luật xá giải không có giá trị bí tích vì chỉ hòa giải hối nhân với Giáo hội nhưng không hòa giải với Thiên Chúa. Và mỗi người chỉ có thể lãnh nhận một lần duy nhất, không tái diễn. Nguyên tắc này được tuân giữ đến TK VI. Tuy nhiên, Giáo hội sơ khai không bỏ mặc tội nhân, mà luôn đồng hành với họ bằng kinh nguyện, và cho họ gia nhập vào đoàn người đền tội.

Lật lại Kinh Thánh, cùng với những kinh nghiệm trong đời sống mục vụ, Giáo Hội Công giáo nhận ra rằng, con người luôn cần đến ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ngay từ Cựu Ước, Thiên Chúa đã luôn thứ tha cho dân Israel mỗi khi dân phạm tội bất trung và ăn năn sám hối trở về. Đức Giêsu đến mặc khải cho ta Thiên Chúa là Cha Nhân Hậu (Lc 15,7,10) Ngài luôn sẵn sàng thứ tha đến “bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22), nghĩa là luôn luôn. Từ TK VII, hình thức thống hối cá nhân được phát triển, hối nhân được tha tội ngay sau khi xưng tội với linh mục,không cần đợi đến khi kết thúc thời gian đền tội. Hình thức xưng tội cá thể xuất hiện và được duy trì đến nay.

Xưng tội dễ hay khó?

Theo lời của một vài linh mục, trong những năm gần đây, bí tích Hòa giải được cử hành giảm đi rất nhiều, đặc biệt là ở phương Tây.
Cũng có nhiều người tâm sự rằng “Thật khó khai thú tất cả những gì mình đã làm, đặc biệt là những điều cấm kỵ hay những việc làm đầy tế nhị với một người như ta…Thật xấu hổ!” Hay “Có những tội ta phạm đi phạm lại nhiều lần không sao sửa được, xưng làm gì nếu ta cứ tái phạm?…”

Nguyên nhân của sự ngại ngùng do đâu mà có? Thiết nghĩ chính bởi tự thiếu khiêm tốn của bản thân. Nói cách khác, là sự kiêu ngạo đang ẩn náu trong tâm hồn. Là người, không ai không có tội, không ai không có lúc vấp ngã. Các thánh cũng là những người hèn yếu và tội lỗi như bao người, nhưng họ biết nhìn nhận sự yếu đuối của mình và chỉ cậy trông vào tình yêu dung thứ của Chúa. Sẽ “không có sự hòan hảo, nếu không có sự bất toàn” (St F.d.Sales).

Một vấn nạn khác đang diễn ra, đặc biệt là ở giới trẻ ngày nay quá đề cao sự tự do của con người, mà quên đi phẩm giá của con người. Người ta cho rằng con người có tự quyền làm tất cả mọi sự. Ý thức về tội dường như cũng không có trong suy nghĩ của họ. Bởi đã là tự do, sao còn cho là phạm tội?

Nhiều người quên rằng, phẩm giá và tự do chỉ được thể hiện tròn đầy khi ta hành động đúng với ơn gọi làm người và làm con Chúa. Đến với bí tích Giao hòa, đâu phải là chỉ để kể tội ta đã trót phạm, mà còn để ta nhìn lại bao ân sủng Chúa ban cho ta và ta đã sử dụng thế nào. Đâu phải chỉ để đấm ngực ăn năn vì ta bất trung, mà còn dịp cho ta hiểu hơn tình Cha và sự trung thành tuyệt đối của Ngài dành cho ta. Vậy cớ gì ta sợ hãi, ngại ngùng tâm sự với người Cha Nhân Từ ấy?

Bí tích Giao Hòa, một hồng ân tuyệt vời.
Giáo hội là thân thể Đức Kytô. Mỗi người là một chi thể. Nếu ân sủng mà một chi thể lãnh nhận mang ích lợi cho toàn thân, thì tội lỗi của một chi thể cũng hủy hoại cả cơ thể ấy. Bí tích hòa giải không những chỉ chữa lành hối nhân, mà chữa lành toàn thể Giáo hội. Nó không những đem lại bình an trong tâm hồn, mà còn giúp ta hồi sức để tiếp tục cuộc hành trình đức tin. Và linh mục là người đại diện Đức Kytô, nhờ người mà ta được lãnh ơn tha thứ và tái hiệp thông với Chúa và toàn thể Giáo hội.

Một Mục sư Tin lành đã nói với tôi ” Người công giáo các bạn thật may mắn. Vì mỗi khi bạn đến với Bí tích hòa giải, hễ vị linh mục nói câu: tội con đã được tha…là bạn được tha hết mọi tội và bạn biết chắc như thế, vì có người ( vị linh mục) xác nhận rõ ràng với bạn. Trong khi chúng tôi, chúng tôi xưng tội trực tiếp với Chúa, chúng tôi tin Ngài tha cho chúng tôi, nhưng không có ai nói một cách cụ thể để chúng tôi có thể đảm bảo mình đã được tha hết mọi tội lỗi…” (Giáo hội Tin lành không có Bí tích hòa giải).

Tội lỗi khiến con người bất an. Tội lỗi phá hủy mối tương quan hiệp thông của con người với Chúa và tha nhân. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể tái thiếp lập mối quan hệ bị phá hủy ấy và ban cho con người bình an đích thực. Đức Kytô Phục Sinh đã tặng món quà cao quý ấy cho con người “Bình an cho anh em” (Ga 14, 27; 20, 19). Ngài những ước mong con người lãnh nhận bởi ” trên trời sẽ vui mừng vì một người tội lỗi trở lại hơn là chín mươi chín người không cần hoán cải” (Lc 15,10).

Là người Công giáo, không ai trong chúng ta không từng đến với bí tích hòa giải để xin ơn tha thứ của Thiên Chúa. Không ai không từng trải nghiệm hồng ân tuyệt vời của bí tích này. Nhờ bí tích hòa giải, con người không những được xóa hết mọi lỗi lầm (1Ga 1,9), mà còn cảm nghiệm được tình yêu bao la của Thiên Chúa là Cha (1P4,8). Chỉ khi đơn sơ mở lòng đón nhận sự tha thứ của Chúa, con người mới có thể đến lượt mình tha thứ cho anh em đồng loại.

Chân phước Charles de Foucauld đã từng bật khóc nức nở như một đứa trẻ khi Ngài lãnh nhận bí tích Hòa giải sau bao nhiêu năm sống ngoài lề Giáo hội. Cảm nhận sâu sắc tình yêu thương đầy thứ tha của Chúa, kể từ đó, Ngài đã tận hiến đời mình cho Đức Giêsu và làm chứng cho Chúa giữa những người Hồi giáo trong sa mạc Sahara, Algérie.

Là người con nhỏ yếu đuối dễ vấp ngã, tôi biết mình chỉ có thể trông cậy vào tình yêu bao la của Cha. Mỗi lần vấp ngã, tuy thật đau đớn, nhưng lại là cơ hội cho tôi cảm nhận sâu hơn tình thương Cha dành cho tôi. Bí tích Giao hòa là sự tha thứ nhãn tiền Cha ban tặng. Vì vậy, bí tích Giao hòa là hồng ân tuyệt vời của tình yêu dung thứ của Cha.

Truc Cỏ

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s