Nghi thức Tuần Thánh

Ý NGHĨA TUẦN THÁNH – NGHI THỨC TUẦN THÁNH

Chúa Kitô đã hoàn thành công trình cứu chuộc nhân loại và tôn vinh Thiên Chúa “nhất là nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, khi Người chịu chết, Người sống lại từ cõi chết và lên trời
trong mầu nhiệm Vượt Qua này, Người đã chết để tiêu diệt cái chết của chúng ta, và sống lại để ban cho chúng ta nguồn sống mới” (Hiến Chế về Phụng Vụ số 5). Vì thế “Hội thánh, Mẹ chúng ta, tưởng niệm Chúa đã phục sinh, mỗi tuần vào ngày Chúa Nhật (ngày của Chúa), và lại còn họp mừng Chúa đã chịu khổ nạn và đã phục sinh, mỗi năm một lần vào kỳ đại lễ Phục Sinh” (số 102).

ĐÊM CANH THỨC VƯỢT QUA
Các môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu đã bắt đầu mừng lễ Vượt Qua của Giao Ước Mới bằng cách thêm một ý nghĩa Kitô giáo vào lễ Vượt Qua của đạo Do Thái:

Đức Kitô đã chịu hiến tế
làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta.
Vì thế, chúng ta hãy lấy bánh không men,
là lòng tinh tuyền và chân thật,
mà ăn mừng đại lễ. (x. 1Cr 5,8)

Người Do Thái họp mừng lễ Vượt Qua trong một đêm canh thức để kính Chúa (Xh 12,42). Vì thế, người Kitô hữu thời xưa, sau khi đã ăn chay suốt ngày thứ Bảy và có khi ngay từ chiều thứ Năm, cũng họp nhau lại trong đêm thứ Bảy sáng Chúa Nhật Phục Sinh để canh thức mừng Chúa Kitô. Trong buổi canh thức này, họ mừng kính toàn thể mầu nhiệm cứu chuộc do Chúa Giêsu Kitô thực hiện. Người đã chết vì tội lỗi chúng ta và sống lại cho chúng ta được nên công chính. Như vậy, cùng với bí tích Thánh Tẩy, nhờ đó ta được gia nhập dân Thiên Chúa, và với thánh lễ tạ ơn ngày Chúa Nhật, lễ họp mừng Vượt Qua hằng năm là căn bản của việc thờ phượng trong Kitô giáo.

TAM NHẬT VƯỢT QUA
Từ thời rất xa xưa, toàn thể các Giáo hội Phương Đông cũng như Phương Tây đều kỷ niệm ba ngày thánh, bắt đầu từ thánh lễ chiều thứ Năm cho đến chiều Chúa Nhật Phục Sinh. Trong Tam Nhật Vượt Qua này, các tín hữu đem lòng tôn kính mến yêu mà tưởng nhớ những gì Chúa Giêsu đã làm từ bữa ăn sau hết với các môn đệ cho đến lần hiện ra với các ông chiều ngày Phục Sinh.

TUẦN THÁNH
Những ngày, những giờ mà Chúa Giêsu thực hiện ơn cứu độ loài người quả là điểm cao nhất trong Năm Phụng Vụ. Vì thế tất cả tuần lễ bắt đầu bằng việc Người khải hoàn vào thành Giêrusalem cũng nhờ đó mà có tính cách long trọng đặc biệt: đó là tuần Thánh. Trong những ngày này, các anh chị em dự tòng kết thúc thời kỳ chuẩn bị chịu phép Rửa, còn toàn thể cộng đoàn Kitô hữu sống tuần lễ sau cùng của Mùa Chay trong tinh thần sám hối sâu đậm hơn.

Nhờ tham dự Phụng Vụ, người Kitô hữu sẽ ý thức rõ hơn rằng “việc họp mừng mầu nhiệm Vượt Qua là phần chính yếu của việc thờ phượng trong Kitô giáo” và “Tam Nhật Vượt Qua kính nhớ Chúa chịu nạn và sống lại là điểm cao chói lọi của Năm Phụng Vụ” (Sách Lễ Rôma).

NGHI THỨC CHÚA NHẬT LỄ LÁ
TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Trong Tam Nhật Vượt Qua, vào ngày thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta sẽ nhớ đến cuộc khổ nạn của Chúa Kitô. Nhưng Giáo hội cho đọc bài tường thuật Thương Khó ngay từ Chúa Nhật hôm nay, để thập giá Chúa Kitô nổi bật trong tất cả Tuần Thánh. Như vậy, Tuần Thánh bắt đầu từ Chúa Nhật Lễ Lá và kết thúc vào Chúa Nhật Phục Sinh. Tuy nhiên ta không nên quên rằng khổ nạn và Phục Sinh là hai gia đoạn của một mầu nhiệm duy nhất, mầu nhiệm chết và sống lại của Chúa Kitô, cứu ta khỏi tội lỗi và cho ta được tình nghĩa với Thiên Chúa (tiền tụng, lời nguyện nhập lễ, lời nguyện hiệp lễ).

Trước thánh lễ có cuộc rước lá, hay ít là một nghi thức đơn giản gợi lại việc Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Mêsia, như sách Giacaria đoạn 9,9-10 đã tiên báo, Người đã muốn làm như thế trước khi chịu nạn, đã chiếu rọi vào cuộc khổ nạn một ánh sáng báo trước cuộc toàn thắng của Người. Khi lặp lại những tiếng hoan hô của dân Do Thái ngày xưa, cộng đoàn Kitô hữu tuyên xưng niềm tin vào Chúa Kitô. Theo sau cây thập giá và linh mục, dân Thiên Chúa long trọng tiến vào nhà thờ, nơi họ sẽ dâng lại lễ tế giao hòa với Thiên Chúa (lời nguyện tiến lễ). Nhưng khi đi rước, họ nói lên niềm hy vọng vì biết rằng khi lên trời, Chúa Giêsu đã mở cửa thành Giêrusalem thiên quốc cho họ, và giờ đây họ đang tiến về nơi đó.

Phụng vụ Chúa Nhật hôm nay tung hô Chúa Giêsu khải hoàn, tiếp đó lại mời gọi ta theo Người trên con đường khổ nhục. Phụng vụ đêm Phục Sinh sẽ ca tụng Chúa Giêsu Kitô đã tự hạ đến cùng để bước vào vinh quang, đã sống lại để chiến thắng thần chết, ta phải được ánh sáng của Chúa Kitô thu hút mới có thể theo Người trong cuộc khổ nạn mà không chùn bước; ta phải thông hiệp với thập giá của Người mới được chia sẻ sự sống của Người. Tất cả Tuần Thánh gồm tóm lại hai hướng đi đó. Tất cả đời sống Kitô hữu cũng vậy.

NHỮNG ĐỒ CẦN CHUẨN BỊ TRƯỚC

1. Trên bàn thờ chính:

- Thánh giá.
- Bình cắm lá thay hoa.
- Nhà tạm phủ khăn đỏ.
2. Trên bàn nhỏ cạnh bàn thờ chính: Tất cả các đồ cần dùng trong thánh lễ.
3. Trong cung thánh: Giá sách với bài tường thuật “Cuộc Thương Khó”
4. Trên ghế của chủ tế: áo lễ đỏ (khi đi kiệu mặc áo choàng).
5. Nơi làm phép lá: Bình nước thánh.
6. Trong phòng thánh:
- Thánh giá (không phủ khăn) có gắn những cành lá để dẫn đầu cuộc rước lá.
- Lễ phục của chủ tế, các phụ tế, các người đọc bài tường thuật cuộc thương khó.
- Đèn, hương, lửa.

1- Hôm nay Hội thánh tưởng niệm Chúa Kitô vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm vượt qua của Người. Vì thế trong mọi thánh lễ đều kính nhớ việc Chúa vào thành bằng cuộc rước kiệu (hình thức 1) hoặc bằng nghi thức nhập lễ trọng thể trước thánh lễ chính (hình thức 2), hay bằng nghi thức nhập lễ đơn giản trước các thánh lễ khác (hình thức 3). Nghi thức nhập lễ trọng thể có thể lặp lại trước một (hoặc hai) thánh lễ khác có đông giáo dân tham dự. Cuộc rước kiệu chỉ làm một lần.

NGHI THỨCTƯỞNG NIỆM CHÚA VÀO GIÊRUSALEM
HÌNH THỨC THỨ NHẤT: RƯỚC KIỆU

2- Đến giờ cử hành thánh lễ, mọi người tập họp tại nhà thờ nhánh hoặc tại nơi thích hợp ngoài nhà thờ là nơi sẽ cử hành thánh lễ. Giáo dân cầm là trong tay.

3- Linh mục và phó tế mặc lễ phục mầu đỏ như khi cử hành thánh lễ, tiến đến chỗ giáo dân tụ họp; linh mục có thể mặc áo choàng thay áo lễ và khi kiệu xong thì cởi áo choàng mặc áo lễ.

4- Trong lúc đó hát điệp ca sau đây hoặc một thánh ca thích hợp.

Điệp ca Mt 21,9

Đ. Hoan hô Thái Tử nhà Đavit
Chúc tụng Vua Israel
Đấng ngự đến nhân danh Chúa
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.

5- Đoạn linh mục chào giáo dân như thường lệ, và nói vắn tắt ít lời mời gọi giáo dân tham dự tích cực và ý thức vào buổi cử hành hôm nay, bằng những lời sau đây hoặc tương tự:

Anh (chị) em thân mến,
Chúng ta tụ họp nơi đây để cùng toàn thể Giáo hội khai mạc Tuần Thánh tưởng niệm mầu nhiệm vượt qua, tức là cuộc thương khó và Phục Sinh của Đức Kitô.
Để chuẩn bị Tuần Thánh, trong suốt mùa chay, chúng ta đã cầu nguyện, thống hối, chia sẻ tình thương và cơm áo cho nhau.
Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay là ngày kỷ niệm Đấng Cứu Thế vào thành thánh Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm vượt qua đem lại cho loài người ơn cứu độ. Chúng ta hãy đem cả niềm tin mà hăng hái bước theo Người.
Xin Người ban ơn để chúng ta thông phần đau khổ Người đã chịu trên thập giá, hầu được chia sẻ vinh quang Phục Sinh và sự sống của Người.

6- Sau lời mời gọi trên đây, linh mục dang tay đọc một trong hai lời nguyện sau đây:

Lời nguyện:
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin thánh ? hiến những cành lá này, để chúng con cầm mà hoan nghênh Đức Giêsu là Vua chúng con. Xin ban cho mọi người chúng con đây là tín hữu Chúa được theo Người vào thành thánh Giêrusalem vĩnh cửu. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Hoặc:
Lạy Chúa, xin gia tăng lòng tin cho chúng con, và những kẻ cậy trông vào Chúa. Giờ đây chúng con cầm những cành lá này, nghênh đón Đức Kitô khải hoàn vinh hiển. Xin Chúa thương nhậm lời và ban cho chúng con được sống kết hợp với Người như cành liền cây, hầu sinh hoa kết quả. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Linh mục thinh lặng rảy nước thánh trên lá.

Làm phép lá xong, trước khi đọc Tin Mừng, có thể phát lá cho các vị đồng tế, các thừa tác viên và một số giáo dân.

Đoạn linh mục chủ tế nhận cành lá dọn sẵn cho ngài do thừa tác viên hoặc một vị đồng tế trao cho. Trong khi phát lá, có thể hát bài thích hợp.
7- Sau đó công bố bài Tin Mừng về việc Chúa vào thành, theo một trong bốn quyển Tin Mừng. Bài này do phó tế đọc như thường lệ, nếu không có phó tế, chính linh mục đọc.

BÀI PHÚC ÂM NĂM A Mt 21, 1-11

“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi các ngài đến gần Giêrusalem, vào địa hạt Bếtphaghê, giáp núi Cây Dầu, Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, sẽ gặp ngay một con lừa mẹ cột ở đó với con lừa con. Các con hãy mở dây, dẫn về đây cho Thầy; và nếu có ai bảo các con điều gì, thì hãy nói: Chúa cần đến chúng, và Ngài sẽ gởi trả lại ngay”. Mọi việc này xảy ra để ứng nghiệm lời tiên tri đã phán:

“Các ngươi hãy bảo thiếu nữ Sion rằng: Kìa vua ngươi nhân ái đến cùng ngươi, ngồi trên lừa mẹ và lừa con, là con của con vật chở đồ”.

Các môn đệ ra đi và làm theo lời Chúa Giêsu dạy bảo. Hai môn đệ dẫn lừa mẹ và lừa con về, trải áo lên mình chúng và đặt Chúa ngồi lên trên. Phần đông dân chúng trải áo xuống đường, kẻ khác thì chặt nhành cây trải lối đi. Dân chúng kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: “Hoan hô con vua Đavit! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Hoan hô trên các tầng trời!”

Khi Ngài vào thành Giêrusalem, thì cả thành phố náo động và nói rằng: “Người đó là ai vậy?” Dân chúng trả lời rằng: “Người ấy là Tiên tri Giêsu, xuất thân từ Nadarét, xứ Galilêa”.

Đó là lời Chúa.

BÀI PHÚC ÂM NĂM B Mc 11, 1-10

“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Khi các ngài đến gần Giêrusalem ngang qua Bêtania, gần núi Cây Dầu, thì Chúa Giêsu sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp ngay cột sẵn đó một lừa con chưa ai cỡi, các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con ‘Sao các ông làm thế?’, thì hãy nói rằng: ‘Chúa cần dùng, xong việc Ngài sẽ trả lại đây’”. Hai môn đệ ra đi và gặp lừa con cột trước cửa ngõ, nơi ngã tư đàng, hai ông liền mở dây. Vài người trong những kẻ đứng đó hỏi hai môn đệ rằng: “Các ông làm gì mà mở dây lừa con vậy?” Hai môn đệ đáp lại như lời Chúa Giêsu dạy bảo, và người ta để cho đem đi. Hai ông dắt lừa con về cho Chúa Giêsu, và trải áo lên mình lừa và Ngài lên cỡi. Nhiều người trải áo xuống đường, kẻ khác chặt nhành cây trải lối đi: Kẻ thì đi trước, người theo sau tung hô rằng: “Hoan hô! Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến. Chúc tụng nước Đavit tổ phụ chúng ta đã đến. Hoan hô trên các tầng trời!”

Đó là lời Chúa.

Hoặc Ga 12, 12-16

“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có đám đông dân chúng đến dự lễ, vừa nghe biết Chúa Giêsu đến Giêrusalem, họ liền cầm cành lá đi đón Người và tung hô rằng: “Hoan hô, chúc tụng vua Israel, Đấng nhân danh Chúa mà đến!” Chúa Giêsu gặp một lừa con, liền cỡi lên, như có lời chép rằng: “Hỡi con gái Sion, đừng sợ chi, này vua ngươi cỡi lừa con đến”. Thoạt đầu, các môn đệ Người không hiểu các lời này, nhưng khi Chúa Giêsu được tôn vinh, các ông mới nhớ lại những lời đó đã chép về Người và người ta đã làm những điều ấy cho Người.

Đó là lời Chúa.

BÀI PHÚC ÂM NĂM C Lc 19, 28-40

“Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu đi trước lên Giêrusalem. Và xảy ra là khi Người đến gần Bếtphaghê và Bêtania, giáp núi gọi là núi Cây Dầu, Người sai hai môn đệ đi và bảo rằng: “Các con hãy đến làng trước mặt kia, vừa vào làng, các con sẽ gặp con lừa con cột sẵn đó chưa ai cỡi bao giờ; các con hãy mở dây mà dẫn về. Và nếu có ai hỏi các con “Tại sao các ông mở dây?”, thì hãy nói thế này: “Vì Chúa cần dùng đến nó”. Hai người được sai ra đi, và gặp lừa con đứng đó như Chúa đã bảo. Hai ông đang mở dây lừa con, thì chủ nó hỏi rằng: “Sao các ông mở dây lừa con?” Hai ông đáp: “Vì Chúa cần đến nó”. Hai ông dắt lừa về cho Chúa Giêsu, trải áo lên mình lừa và đặt Chúa lên trên. Dọc đàng, người ta trải áo trên lối đi. Khi Người đến gần triền núi Cây Dầu, tất cả đoàn môn đệ hân hoan lớn tiếng ca ngợi Chúa về mọi phép lạ họ đã thấy mà rằng: “Chúc tụng Đấng nhân danh Chúa mà đến! Bình an trên trời và vinh quang trên các tầng trời”. Một vài người biệt phái trong đám đông nói cùng Người rằng: “Thưa Thầy, xin hãy mắng các môn đệ Ngài đi”. Chúa Giêsu nói: “Tôi bảo cho các ông biết: nếu họ làm thinh, thì những viên đá sẽ la lên”.

Đó là lời Chúa.
8- Sau bài Tin Mừng, có thể tùy nghi giảng một bài vắn tắt. Để bắt đầu cuộc rước, chủ tế hoặc một thừa tác viên có khả năng khuyến khích giáo dân bằng những lời sau đây hoặc tương tự.

Anh (chị) em thân mến,
Chúng ta hãy noi gương dân thành Giêrusalem mà hoan hỷ lên đường nghênh đón Đức Kitô.

9- Rồi bắt đầu rước vào nhà thờ, nơi cử hành thánh lễ.

Nếu có dùng hương, người cầm bình hương đi trước, tay cầm bình hương nghi ngút, kế đến người cầm thánh giá có gắn nhành lá, đi giữa hai người cầm nến cháy, theo sau là linh mục và các người giúp lễ, cuối cùng là giáo dân tay cầm nhành lá.

Đang khi đi kiệu, ca đoàn cùng giáo dân hát các bài thánh ca sau đây, hoặc các bài khác thích hợp.

Điệp ca

Dân Do Thái vui mừng ra đón Chúa.
Tay phất cành ôlưu
Miệng reo hò ca tụng:
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.
Tùy nghi lặp lại điệp ca sau một vài câu thánh vịnh 23.

Thánh vịnh 23

Chúa làm chủ trái đất cùng muôn vật muôn loài.
Làm chủ hoàn cầu với toàn thể dân cư.
Nền trái đất, Người dựng trên biển cả,
Đặt vững vàng trên làn nước mênh mông.
Ai được lên núi Chúa?
Ai được ở trong đền thánh của Người?
Đó là kẻ tay sạch lòng thanh,
Chẳng mê theo ngẫu tượng.
Không thề gian thề dối.
Người ấy sẽ được Chúa ban phúc lành.
Được Thiên Chúa cứu độ thưởng công xứng đáng.
Đây chính là dòng dõi những kẻ tìm kiếm Người.
Tìm thánh nhan Thiên Chúa nhà Giacóp.
Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên,
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự qua.
Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là Đức Chúa mạnh mẽ oai hùng,
Đức Chúa oai hùng khi xuất trận.
Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là Chúa tể càn khôn:
Chính Người là Đức Vua vinh hiển.

Điệp ca

Dân Do Thái trải áo trên đường
Và lớn tiếng reo hò:
Hoan hô Thái Tử nhà Đavit,
Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa.
Tuy nghi lặp lại điệp ca sau một vài câu thánh vịnh 46.

Thánh vịnh 46

Vô tay đi nào muôn dân hỡi,
Mừng Thiên Chúa, hãy cất tiếng hò reo !
Vì Đức Chúa là Đấng tối cao, Đấng khả úy.
Là Vua cả thống trị khắp địa cầu.
Chính Người bắt muôn dân muôn nước
Phải phục quyền và quỵ lụy chúng tôi.
Người chọn lựa cho chúng tôi phần cơ nghiệp.
Cơ nghiệp làm cho Người thương kẻ người nhà Giacóp
Được nở mặt nở mày.
Thiên Chúa ngự lên rộn rã tiếng hò reo,
Chúa ngự lên, vang dội tiếng tù và.
Hãy đàn ca, đàn ca mừng Thiên Chúa,
Đàn ca lên nào, đàn ca nữa kính vua ta.
Thiên Chúa là vua toàn cõi địa cầu,
Hãy dâng Người khúc đàn ca tuyệt mỹ.
Thiên Chúa là vua thống trị chư dân,
Thiên Chúa ngự trên tòa uy linh cao cả.
Kìa vương hầu các dân tề tựu
Cùng dâng Thiên Chúa, Chúa của Abraham.
Mọi thủ lãnh trần gian thuộc quyền Chúa,
Đấng siêu việt ngàn trùng.

Thánh thi mừng Chúa Kitô Vua

Ca đoàn:

Câu chúc tụng lời tung hô vạn tuế,
Kính dâng Ngài, lạy vua cả Kitô,
Xin tôn vinh Đấng cứu chuộc nhân từ
Như toàn thể thiếu nhi xưa mừng Chúa.

Cộng đoàn:

Câu chúc tụng lời tung hô vạn tuế,
Kính dâng Ngài, lạy vua cả Kitô,
Xin tôn vinh Đấng cứu chuộc nhân từ
Như toàn thể thiếu nhi xưa mừng Chúa.

Ca đoàn:

Vạn tuế vua Israel,
Thánh tử nhà Đavít,
Vạn phúc vua nhân hiền,
Ngự đến nhân danh Chúa.
Thần thánh cõi thiên đình
Với muôn người nhân thế
Cùng toàn thể thọ sinh
Đồng thanh ca tụng Chúa.
Dân Chúa xưa cầm lá
Rước Người ngự vào thành
Chúng con nay cầu nguyện
Dâng tiếng hát cung nghinh
Trước khi Ngài chịu nạn,
Họ thành kính tán dương,
Nay chúng con mừng hát
Ngài hiển trị thiên đường.
Lạy vua đầy nhân hậu,
Tình dân, Ngài đã thấu,
Xin đoái nhận nỗi niềm,
Lòng thành kính dâng lên.

10- Khi đoàn kiệu đang tiến vào nhà thờ thì hát bài sau đây, hoặc một bài khác về việc Chúa tiến vào thành.

Xướng đáp

Đ. Xưa Chúa vào thành thánh,
Dân Do Thái phất lá hò reo
Tiên báo Người phục sinh vinh hiển,
Nay chúng ta đồng thanh ca hát:
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.

X. Xưa dân Chúa vừa mới được tin
Chúa Giêsu vào Giêrusalem,
Liền đổ xô ra đón
Và phất lá hò reo.

Đ. Nay chúng ta đồng thanh ca hát
Hoan hô Chúa trên các tầng trời.

11- Tới bàn thờ, chủ tế chào kính bàn thờ, và tùy nghi xông hương bàn thờ. Sau đó, tiến về ghế ngồi (cởi áo choàng, mặc áo lễ) đọc ngay lời nguyện nhập lễ rồi tiếp tục thánh lễ như thường lệ.

HÌNH THỨC THỨ HAI
NGHI THỨC NHẬP LỄ TRỌNG THỂ

12- Nơi nào không thể rước kiệu ngoài nhà thờ được, thì việc Chúa vào thành được cử hành trong nhà thờ bằng nghi thức nhập lễ trọng thể trước thánh lễ chính.

13- Giáo dân cầm nhành lá trên tay tụ họp trước cửa nhà thờ, hoặc trong chính nhà thờ. Chủ tế, các người giúp lễ và một ít đại diện giáo dân tiến đến nơi đã dọn sẵn ngoài cung thánh, mà ít ra một số đông giáo dân có thể nhìn thấy được.

14- Đang khi chủ tế tiến đến chỗ nói trên, thì hát điệp ca “Hoan hô Thái Tử” hoặc bài khác thích hợp. Rồi làm phép lá và công bố Tin Mừng về việc Chúa vào thành Giêrusalem (như số 5-7). Sau Tin Mừng, chủ tế, các người giúp lễ và đại diện giáo dân tiến lên cung thánh cách trọng thể, trong lúc đó hát xướng đáp “Xưa Chúa vào thành thánh” (số 10) hoặc bài khác thích hợp.

15- Tới bàn thờ, chủ tế bái chào và tùy nghi xông hương bàn thờ. Sau đó tiến về ghế ngồi, đọc ngay lời nguyện nhập lễ, rồi tiếp tục thánh lễ như thường lệ.

HÌNH THỨC THỨ BA
NGHI THỨC NHẬP LỄ ĐƠN GIẢN

16- Chúa Nhật này, trong tất cả các thánh lễ nào không cử hành nghi thức nhập lễ trọng thể được, thì kính nhớ việc Chúa vào thành Giêrusalem bằng nghi thức nhập lễ đơn giản.

17- Trong lúc chủ tế tiến ra bàn thờ, thì hát ca nhập lễ, cùng với thánh vịnh (số 18 dười đây) hoặc bài khác cùng một đề tài. Tời bàn thờ, chủ tế chào kính bàn thờ, rồi tiến về ghế, chào giáo dân; đoạn tiếp tục thánh lễ như thường lệ.
Trong các thánh lễ không có giáo dân tham dự, và trong các thánh lễ khác không hát ca nhập lễ được, thì ngay khi đến và chào kính bàn thờ, chủ tế đọc ca nhập lễ, và thánh lễ tiếp tục như thường lệ.

18- Ca nhập lễ

Sáu ngày trước đại lễ vượt qua,
Khi Chúa vào thành Giêrusalem
Các trẻ em chạy ra đón Người
Tay phất cành thiên tuế.
Miệng lớn tiếng hò reo.

Điệp ca

Hoan hô Chúa trên các tầng trời !
Chúc tụng Đấng ngự đến
Đầy nhân hậu từ bi.
Hỡi cửa đền, hãy cất cao lên. Tv 23, 9-10
Cao lên nữa, hỡi cửa đền cổ kính,
Để Đức Vua vinh hiển ngự vào.
Đức Vua vinh hiển đó là ai?
Là Chúa tể càn khôn:
Chính Người là Đức Vua vinh hiển.

Điệp ca

Hoan hô Chúa trên các tầng trời !
Chúc tụng Đấng ngự đến
Đầy nhân hậu từ bi.

19- Nơi nào không rước kiệu cũng không cử hành nhập lễ trọng thể được thì chiều thứ Bảy hoặc ngày Chúa Nhật, vào lúc thuận tiện, nên cử hành lời Chúa về việc Đấng Cứu Thế vào thành Giêrusalem và cuộc thương khó của Ngài.

THÁNH LỄ

20- Sau khi rước kiệu, hoặc sau nghi thức nhập lễ trọng thể, linh mục đọc lời nguyện nhập lễ bắt đầu thánh lễ.

21- Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn nằng hằng hữu, Chúa đã muốn cho Đấng Cứu Chuộc loài người phải sống kiếp phàm nhân và chịu khổ hình thập giá, để nêu gương khiêm nhường cho thiên hạ noi theo. Xin cho chúng con biết đón nhận bài học Người để lại trong cuộc thương khó, và được thông phần vinh quang phục sinh với Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

BÀI ĐỌC I Is 50, 4-7

“Tôi đã không giấu mặt mũi tránh những lời nhạo cười,
nhưng tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Chúa đã ban cho tôi miệng lưỡi đã được huấn luyện, để tôi biết dùng lời nói nâng đỡ kẻ nhọc nhằn. Mỗi sáng Người đánh thức tôi, Người thức tỉnh tai tôi, để nghe lời Người giáo huấn. Thiên Chúa đã mở tai tôi, mà tôi không cưỡng lại và cũng chẳng thối lui. Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu; tôi đã không che giấu mặt mũi, tránh những lời nhạo cười và những người phỉ nhổ tôi. Vì Chúa nâng đỡ tôi, nên tôi không phải hổ thẹn; nên tôi trơ mặt chai như đá, tôi biết tôi sẽ không phải hổ thẹn.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 21, 8-9. 17-18a. 19-20. 23-24

Đáp: Ôi Thiên Chúa! Ôi Thiên Chúa! sao Chúa đã bỏ con?

1) Bao người thấy con đều mỉa mai con, họ bĩu môi, họ lắc đầu: “Hắn tin cậy Chúa, xin Ngài cứu hắn, xin Ngài giải gỡ hắn, nếu Ngài yêu thương”. – Đáp.

2) Đứng quanh con là đàn ưng khuyển, một lũ côn đồ bao bọc lấy con. Chân tay con chúng đều chọc thủng, con có thể đếm được mọi đốt xương con. – Đáp.

3) Phần chúng thì nhìn xem con và vui vẻ, đem y phục của con chia sẻ với nhau, còn tấm áo dài, thì chúng rút thăm. Phần Ngài, lạy Chúa, xin chớ đứng xa con, ôi Đấng phù trợ con, xin kíp ra tay nâng đỡ. – Đáp.

4) Con sẽ tường thuật danh Chúa cho các anh em, giữa nơi công hội, con sẽ ngợi khen Người. “Chư quân là người tôn sợ Chúa, xin hãy ca khen Chúa. Toàn thể miêu duệ nhà Giacóp, hãy chúc tụng Người, hãy tôn sợ Người, hết thảy dòng giống Israel!” – Đáp.

BÀI ĐỌC II Pl 2, 6-11

“Người đã tự hạ mình; vì thế Thiên Chúa đã tôn vinh Người”.

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Philipphê.

Chúa Giêsu Kitô, tuy là (thân phận) Thiên Chúa, đã không nghĩ phải giành cho được ngang hàng với Thiên Chúa; trái lại, Người hủy bỏ chính mình mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu, để khi nghe tên Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong địa ngục phải quỳ gối xuống, và mọi miệng lưỡi phải tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Chúa để Thiên Chúa Cha được vinh quang.

Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM Pl 2, 8-9

Chúa Kitô vì chúng ta, đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

22- Khi đọc bài Thương Khó, không mang đèn nến, không xông hương, không chào và cũng không ghi dấu thánh giá trên sách. Phó tế đọc bài Thương Khó, hoặc nếu không có phó tế thì linh mục đọc. Người đọc sách cũng có thể đọc bài Thương Khó, nhưng nếu được thì nên dành những lời của Chúa Kitô cho linh mục.

Nếu là phó tế, trước khi đọc hoặc hát bài Thương Khó, phải đến xin chủ tế ban phép lành như trong các thánh lễ khác.

Hết bài Thường Khó, xướng “Đó là lời Chúa” như thường lệ nhưng không hôn sách.

NĂM A
BÀI THƯƠNG KHÓ Mt 26, 14 – 27, 66

“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, một trong nhóm Mười Hai, tên là Giuđa Iscariô, đi gặp các thượng tế và nói với họ: S. “Các ông cho tôi bao nhiêu, tôi nộp Người cho các ông?” C. Họ liền ấn định cho ba mươi đồng bạc. Và từ đó, hắn tìm dịp thuận tiện để nộp Người. Ngày thứ nhất tuần lễ ăn bánh không men, các môn đệ đến thưa Chúa Giêsu rằng: S. “Thầy muốn chúng con sửa soạn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua ở đâu?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Các con hãy vào thành, đến với một người kia nói rằng: Thầy bảo, giờ Ta đã gần, Ta sẽ mừng Lễ Vượt Qua với các môn đệ tại nhà ông”.

C. Các môn đệ làm như Chúa Giêsu truyền và sửa soạn Lễ Vượt Qua. Chiều đến, Người ngồi bàn ăn với mười hai môn đệ. Và khi các ông đang ăn, Người nói: ? “Thầy nói thật với các con: có một người trong các con sẽ nộp Thầy”. C. Môn đệ rất buồn rầu và từng người bắt đầu hỏi Người: S. “Thưa Thầy, có phải con không?” C. Người trả lời rằng: ? “Kẻ giơ tay cùng chấm vào đĩa với Thầy, đó chính là kẻ nộp Thầy. Thực ra, Con Người sẽ ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ sẽ nộp Con Người! Thà người đó đừng sinh ra thì hơn!” C. Giuđa, kẻ phản bội, cũng thưa Người rằng: S. “Thưa Thầy, có phải con chăng?” C. Chúa đáp: ? “Đúng như con nói”.
C. Vậy khi mọi người còn đang ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ mà phán: ? “Các con hãy cầm lấy mà ăn, vì này là Mình Ta”. C. Đoạn Người cầm lấy chén, tạ ơn, rồi trao cho các môn đệ mà phán: ? “Tất cả các con hãy uống chén này, vì này là Máu Ta, Máu Tân Ước, sẽ đổ ra cho nhiều người được tha tội. Thầy bảo các con: Từ nay, Thầy sẽ không còn uống chất nho này nữa cho đến ngày Thầy sẽ uống rượu mới cùng các con trong nước Cha Thầy”.

C. Sau khi hát thánh vịnh, Thầy trò liền lên núi Ôliu. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông: ? “Tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy trong chính đêm nay, vì có lời chép rằng: ‘Ta sẽ đánh chủ chăn, và các chiên trong đoàn sẽ tan tác’. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”. C. Phêrô liền thưa: S. “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, riêng con, con sẽ không bao giờ vấp phạm”. C. Chúa Giêsu đáp: ? “Thầy bảo thật con, chính đêm nay, trước khi gà gáy, con sẽ chối Thầy ba lần”. C. Phêrô lại thưa: S. “Dù có phải chết cùng Thầy, con sẽ không chối Thầy”. C. Và tất cả các môn đệ cùng nói như vậy.

Rồi Chúa Giêsu cùng đi với các ông đến một chỗ gọi là Ghếtsêmani, và Người bảo các môn đệ: ? “Các con hãy ngồi đây để Thầy đến đàng kia cầu nguyện”. C. Đoạn Chúa đưa Phêrô và hai người con ông Giêbêđê cùng đi, Người bắt đầu cảm thấy buồn bực và sầu não. Lúc ấy, Người bảo các ông: ? “Linh hồn Thầy buồn sầu đến nỗi chết được; các con hãy ở lại đây và thức với Thầy”. C. Tiến xa hơn một chút, Người sấp mặt xuống, cầu nguyện và nói: ? “Lạy Cha, nếu được, xin cho Con khỏi chén này! Nhưng đừng như ý Con muốn, một theo ý Cha muốn”. C. Người trở lại cùng các môn đệ và thấy các ông đang ngủ, liền nói với Phêrô: ? “Chẳng lẽ các con không thức cùng Thầy được lấy một giờ ư? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi lâm cơn cám dỗ: vì tinh thần thì lanh lẹ, nhưng xác thịt thì yếu đuối”. C. Rồi Người lại đi cầu nguyện lần thứ hai mà rằng: ? “Lạy Cha, nếu chén này không thể qua đi được mà Con phải uống, thì xin theo ý Cha”. C. Đoạn Người trở lại và thấy các ông còn ngủ, vì mắt các ông nặng trĩu. Người để mặc các ông và đi cầu nguyện lần thứ ba, vẫn lại những lời như trước. Sau đó Người trở lại với các môn đệ và bảo: ? “Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi! Này sắp đến giờ Con Người sẽ bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Các con hãy chỗi dậy. Chúng ta hãy đi: này kẻ nộp Thầy đã tới gần”. C. Người còn đang nói, thì đây, Giuđa, một trong nhóm mười hai, và cùng với y có lũ đông mang gươm giáo gậy gộc, do các thượng tế và kỳ lão trong dân sai đến. Vậy tên nội công đã dặn họ ám hiệu này: S. “Hễ tôi hôn người nào, thì đó chính là Người, các ông hãy bắt lấy”. C. Tức khắc Giuđa tới gần Chúa Giêsu và nói: S. “Chào Thầy”. C. Và nó hôn Người. Nhưng Chúa Giêsu bảo: ? “Hỡi bạn, bạn đến đây làm chi?” C. Lúc đó chúng xông tới, tra tay bắt Chúa Giêsu. Ngay sau đó, một trong những người vẫn theo Chúa Giêsu, giơ tay rút gươm và chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu liền bảo: ? “Con hãy xỏ ngay gươm vào bao: vì tất cả những kẻ dùng gươm sẽ chết vì gươm. Nào con tưởng rằng Thầy không thể xin Cha Thầy và Ngài sẽ tức khắc gởi đến hơn mười hai cơ binh thiên thần sao? Mà như thế thì làm sao ứng nghiệm lời Kinh Thánh bảo: Sự thế phải như vậy?” C. Lúc đó Chúa Giêsu nói cùng đám đông rằng: ? “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ, giữa các ngươi, mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng tất cả sự đó xảy ra là để ứng nghiệm lời các tiên tri đã chép”. C. Bấy giờ các môn đệ bỏ Người và chạy trốn hết.

Những kẻ đã bắt Chúa Giêsu điệu Người đến thầy thượng tế Caipha. Nơi đây các luật sĩ và kỳ lão đã hội họp. Phêrô theo Người xa xa cho tới dinh thầy thượng tế. Rồi ông vào trong dinh ngồi cùng bọn đầy tớ, xem việc xảy ra thế nào. Vậy các thượng tế và tất cả công nghị tìm chứng gian cáo Chúa Giêsu để lên án xử tử Người. Và họ đã không tìm được, mặc dù đã có một số đông chứng nhân ra mắt. Sau cùng, hai người làm chứng gian đến khai rằng: S. “Người này đã nói: Ta có thể phá đền thờ Thiên Chúa và xây cất lại trong ba ngày”. C. Bấy giờ thầy thượng tế đứng lên nói: S. “Ông không trả lời gì về các điều những người này đã cáo ông ư?” C. Nhưng Chúa Giêsu làm thinh, nên thầy thượng tế bảo Người: S. “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, ta truyền cho ông hãy nói cho chúng ta biết: Ông có phải là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa không?” C. Chúa Giêsu trả lời: ? “Ông đã nói đúng. Nhưng Ta nói thật với các ông: rồi đây các ông sẽ xem thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng, và sẽ đến trên đám mây”. C. Bấy giờ thầy thượng tế xé áo mình ra và nói: S. “Nó đã nói lộng ngôn! Chúng ta còn cần gì đến nhân chứng nữa? Đây các ngài vừa nghe lời lộng ngôn. Các ngài nghĩ sao?” C. Họ đáp lại: S. “Nó đáng chết!” C. Bấy giờ chúng nhổ vào mặt Người, đấm đánh Người, lại có kẻ tát vả Người mà nói rằng: S. “Hỡi Kitô, hãy bói xem, ai đánh ông đó?” C. Còn Phêrô ngồi ở ngoài sân. Một đầy tớ gái lại gần và nói: S. “Ông nữa, ông cũng đã theo Giêsu người xứ Galilêa”. C. Nhưng ông chối trước mặt mọi người mà rằng: S. “Tôi không hiểu chị muốn nói gì?” C. Khi ông lui ra đến cổng, một đầy tớ gái khác thấy ông, liền nói với những người ở đó: S. “Ông này cũng theo Giêsu người Nadarét”. C. Ông thề mà chối rằng: S. “Tôi không biết người ấy”. C. Một lúc sau, mấy người đứng đó lại gần mà nói với Phêrô rằng: S. “Đúng rồi, ngươi cũng thuộc bọn ấy. Vì chính giọng nói của ngươi tiết lộ tông tích ngươi”. C. Bấy giờ ông rủa mà thề rằng: ông không hề biết người ấy. Tức thì gà gáy. Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói: “Trước khi gà gáy, con sẽ chối Ta ba lần”, và ông ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Trời vừa sáng, các thượng tế và kỳ lão trong dân hội họp bày mưu giết Chúa Giêsu. Họ trói Người và điệu đi nộp cho tổng trấn Phongxiô Philatô. Bấy giờ Giuđa, kẻ nộp Người, thấy Người bị kết án thì hối hận, đem ba mươi đồng bạc trả lại cho các thượng tế và kỳ lão mà nói rằng: S. “Tôi đã phạm tội vì nộp máu người công chính”. C. Nhưng họ trả lời: S. “Can chi đến chúng tôi! Mặc kệ anh!” C. Anh ta ném những đồng bạc đó vào trong đền thờ và ra đi thắt cổ. Các thượng tế lượm lấy bạc đó và nói:
S. “Không nên để bạc này vào kho vì là giá máu”. C. Sau khi bàn bạc, họ lấy tiền đó mua thửa ruộng của người thợ gốm làm nơi chôn cất những người ngoại kiều. Bởi thế, ruộng ấy cho đến ngày nay được gọi là Haselđama, nghĩa là ruộng máu. Như vậy là ứng nghiệm lời tiên tri Giêrêmia nói: “Chúng đã lấy ba mươi đồng bạc là giá do con cái Israel đã mặc cả mà bán Đấng cao trọng. Và họ mang tiền đó mua ruộng của người thợ gốm như lời Chúa đã truyền cho tôi”.

Vậy Chúa Giêsu đứng trước quan tổng trấn, và quan hỏi Người rằng: S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: ? ? “Ông nói đúng!” C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. “Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?” C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tùy ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: S. “Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?” C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: S. “Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy, vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy”. C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: S. “Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?” C. Họ thưa: S. “Baraba!”
C. Philatô hỏi: S. “Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?” C. Họ đồng thanh đáp: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Quan lại hỏi: S. “Nhưng người này đã làm gì nên tội?” C. Chúng càng la to: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: S. “Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi”. C. Toàn dân đáp: S. “Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: S. “Tâu vua dân Do-thái!” C. Đoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.

Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hòa với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: “Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm”. Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: Người này là Giêsu, vua dân Do-thái. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả.

Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói:
S. “Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: “Ta là Con Thiên Chúa!” C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: ? ? “Eli, Eli, lema sabachtani!” C. Nghĩa là: ? “Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!” C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng:
S. “Nó gọi tiên tri Elia”. C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: S. “Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?” C. Đoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: S. “Đúng người này là Con Thiên Chúa”. C. Ở đó cũng có nhiều phụ nữ đứng xa xa; họ là những người đã theo giúp Chúa Giêsu từ xứ Galilêa. Trong số đó có Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê và Giuse, và mẹ các người con của Giêbêđê.

Tới chiều có một người giàu sang quê ở Arimathia tên là Giuse, cũng đã làm môn đệ Chúa Giêsu, ông đi gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Bấy giờ Philatô truyền giao xác cho ông. Vậy ông Giuse lấy xác, liệm trong một khăn sạch, và đặt trong mồ mà ông đã cho đục trong đá, rồi ông lăn một tảng đá lớn lấp cửa mồ lại và ra về. Còn Maria Mađalêna và bà Maria kia cùng ngồi đó nhìn vào mộ.

Hôm sau, tức là sau ngày chuẩn bị mừng lễ, các thượng tế và biệt phái đến dinh Philatô trình rằng: S. “Thưa ngài, chúng tôi nhớ, lúc sinh thời tên bịp bợm ấy có nói: ‘Sau ba ngày, Ta sẽ sống lại’. Vậy xin ngài truyền lệnh cho canh mộ đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ nó lấy trộm xác rồi phao đồn với dân chúng rằng: Người đã từ cõi chết sống lại! Và như thế, sự gian dối này lại còn tai hại hơn trước”. C. Philatô trả lời: S. “Các ông đã có lính canh thì cứ đi mà canh như ý”. C. Họ liền đi và đóng ấn niêm phong tảng đá và cắt lính canh giữ mồ.

Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này Mt 27, 11-54

C. Khi ấy, Chúa Giêsu đứng trước tổng trấn (Phongxiô Phi-latô), và quan hỏi Người rằng: S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Ông nói đúng!” C. Nhưng khi các thượng tế và kỳ lão tố cáo Người thì Người không trả lời chi cả. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. “Ông không nghe thấy tất cả những điều họ tố cáo ông sao?” C. Chúa Giêsu cũng không đáp lại về một điều nào, khiến quan tổng trấn hết sức ngạc nhiên.

Vào mỗi dịp lễ trọng, quan tổng trấn có thói quen phóng thích cho dân một người tù tùy ý họ xin. Lúc ấy có một phạm nhân nổi tiếng tên là Baraba. Vậy Philatô nói với dân chúng đã tụ tập lại đó rằng: S. “Các ngươi muốn ta phóng thích ai, Baraba hay Giêsu mà người ta vẫn gọi là Kitô?” C. Quan biết rõ chỉ vì ghen ghét mà chúng đã nộp Người. Vậy trong khi quan ngồi xét xử, bà vợ sai người nói cùng quan rằng: S. “Xin ông đừng can thiệp gì đến vụ người công chính ấy,vì hôm nay trong một giấc chiêm bao, tôi đã phải đau khổ rất nhiều vì người ấy”. C. Nhưng các thượng tế và kỳ lão xúi giục dân xin tha Baraba và giết Chúa Giêsu. Quan lại lên tiếng hỏi họ: S. “Trong hai người đó các ngươi muốn ta phóng thích ai?” C. Họ thưa: S. “Baraba!” C. Philatô hỏi: S. “Vậy đối với Giêsu gọi là Kitô, ta phải làm gì?” C. Họ đồng thanh đáp: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Quan lại hỏi: S. “Nhưng người này đã làm gì nên tội?” C. Chúng càng la to: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Bấy giờ Philatô thấy mất công, lại thêm náo động, nên ông lấy nước rửa tay trước mặt dân chúng và nói: S. “Ta vô can về máu người công chính này, mặc kệ các ngươi”. C. Toàn dân đáp: S. “Hãy để cho máu nó đổ trên chúng tôi và trên con cái chúng tôi”. C. Bấy giờ quan phóng thích Baraba cho họ, còn Chúa Giêsu thì trao cho họ đánh đòn, rồi đem đi đóng đinh vào thập giá.

Bấy giờ lính tổng trấn liền điệu Chúa Giêsu vào trong công đường và tập họp cả cơ đội lại chung quanh Người. Họ lột áo Người ra, khoác cho Người một áo choàng đỏ, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người và trao vào tay mặt Người một cây sậy, họ quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng rằng: S. “Tâu vua dân Do-thái!” C. Đoạn họ khạc nhổ vào Người và lấy cây sậy đập trên đầu Người. Khi đã chế nhạo Người xong, họ lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục cũ lại cho Người và điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Lúc đi ra, họ gặp một người thành Xyrênê tên là Simon, liền bắt ông vác đỡ thánh giá cho Người.

Họ đi đến một nơi gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Họ cho Người uống rượu hòa với mật đắng, Người chỉ nếm qua nhưng không muốn uống. Khi đã đóng đinh Người trên thập giá rồi, họ rút thăm chia nhau áo Người, để ứng nghiệm lời tiên tri rằng: “Chúng đã chia nhau áo Ta, còn áo ngoài của Ta, chúng đã bắt thăm”. Rồi họ ngồi lại canh Người. Họ cũng đặt trên đầu Người bản án viết như sau: “Người này là Giêsu, vua dân Do-thái”. Lúc ấy, cùng với Người, họ đóng đinh hai tên trộm cướp, một tên bên hữu, một tên bên tả.

Những người đi ngang qua, lắc đầu chế diễu Người và nói:
S. “Kìa, ngươi là kẻ phá đền thờ và xây cất lại trong ba ngày, hãy tự cứu mình đi, nếu là Con Thiên Chúa, thì hãy xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế cùng luật sĩ và kỳ lão cũng chế nhạo Người rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác mà không cứu nổi chính mình! Nếu nó là vua dân Do-thái, thì bây giờ hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta sẽ tin nó. Nó đã trông cậy Thiên Chúa, nếu Ngài thương nó thì bây giờ Ngài hãy cứu nó, vì nó nói: “Ta là Con Thiên Chúa!” C. Cả những tên cướp bị đóng đinh trên thập giá với Người cũng nhục mạ Người như thế. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, khắp cả xứ đều tối tăm mù mịt. Vào khoảng giờ thứ chín thì Chúa Giêsu kêu lớn tiếng: ? ? “Eli, Eli, lamma sabachtani!” C. Nghĩa là: ? “Lạy Chúa con, lạy Chúa con! sao Chúa bỏ con!” C. Có mấy người đứng đó nghe vậy nói rằng:
S. “Nó gọi tiên tri Elia”. C. Lập tức một người trong bọn chạy đi lấy một miếng bọt biển, nhúng đầy dấm và cuốn vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Nhưng có kẻ lại bảo: S. “Hãy chờ xem Elia có đến cứu nó không?” C. Đoạn Chúa Giêsu lại kêu lên lớn tiếng và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Bỗng nhiên màn đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, đất chuyển động, đá nứt ra. Các mồ mả mở tung và xác của nhiều vị thánh đã qua đời được sống lại. Và sau khi Chúa sống lại, họ ra khỏi mồ, vào thành thánh và hiện ra cùng nhiều người. Còn viên sĩ quan và những kẻ cùng ông canh giữ Chúa Giêsu, thấy đất chuyển động và các sự xảy ra, thì thất kinh sợ hãi và nói: S. “Đúng người này là Con Thiên Chúa”.
Đó là lời Chúa.

NĂM B
BÀI THƯƠNG KHÓ Mc 14, 1 – 15, 47

“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Marcô.

Hai ngày trước Lễ Vượt Qua và Tuần Lễ ăn bánh không men, các thượng tế và luật sĩ tìm mưu bắt giết Chúa Giêsu. Họ bảo nhau rằng: S. “Đừng làm trong ngày lễ, kẻo sinh náo động trong dân”. C. Khi Chúa đang dùng bữa ở Bêtania trong nhà ông Simon tật phong, thì có một người phụ nữ mang đến một bình ngọc đựng dầu thơm rất quý giá. Đập vỡ bình, bà đổ dầu thơm trên đầu Người. Có mấy người khó chịu nghĩ thầm rằng: Làm gì mà phí dầu thơm như vậy? Dầu này có thể bán được hơn ba trăm đồng bạc để bố thí cho kẻ nghèo khó. Và họ nặng lời với bà đó. Nhưng Chúa Giêsu bảo: ? “Hãy để mặc bà, sao các ông lại làm cực lòng bà? Bà vừa làm cho Ta một việc rất tốt. Vì bao giờ các ông cũng có những kẻ nghèo ở bên mình, và các ông có thể làm phúc cho họ lúc nào tùy ý, nhưng Ta, các ông không có Ta ở luôn với đâu. Làm được gì thì bà đã làm, bà đã xức dầu thơm có ý tẩm liệm xác Ta trước. Ta bảo thật các ông: Trong khắp thế giới, Phúc âm này rao giảng đến đâu thì người ta cũng sẽ thuật lại việc bà mới làm để nhớ bà”. C. Khi ấy, Giuđa Iscariô, một trong nhóm Mười Hai, đến tìm các thượng tế để tình nguyện nộp Người cho họ. Nghe vậy, họ mừng rỡ và họ liền hứa cho nó tiền. Và nó tìm dịp tiện nộp Người.

Ngày thứ nhất trong tuần lễ ăn bánh không men là ngày giết chiên mừng Lễ Vượt Qua, các môn đệ thưa Người: S. “Thầy muốn chúng con đi dọn cho Thầy ăn Lễ Vượt Qua tại đâu?”
C. Người liền sai hai môn đệ đi và dặn rằng: ? “Các con hãy vào thành, và nếu gặp một người mang vò nước thì hãy đi theo người đó. Hễ người ấy vào nhà nào thì các con hãy nói với chủ nhà rằng: Thầy sai chúng tôi hỏi: Căn phòng Ta sẽ ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ ở đâu? Và chủ nhà sẽ chỉ cho các con một căn phòng rộng rãi dọn sẵn sàng và các con hãy sửa soạn cho chúng ta ở đó”. C. Hai môn đệ ra đi vào thành và thấy mọi sự như Người đã bảo, và hai ông dọn Lễ Vượt Qua.

Chiều đến, Người cùng Mười Hai môn đệ tới. Và khi mọi người đang ngồi ăn, thì Chúa Giêsu nói: ? “Ta bảo thật các con, một trong các con đang ăn cùng Ta, sẽ nộp Ta”. C. Các ông đều buồn rầu, và lần lượt từng người thưa Ngài: S. “Thưa Thầy, có phải con không?” C. Người đáp: ? “Là một trong mười hai, kẻ cùng chấm một đĩa với Thầy. Con Người phải ra đi như đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nộp Con Người. Thà nó đừng sinh ra thì hơn”. C. Đang khi họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các ông mà phán: ? “Các con hãy cầm lấy, này là Mình Ta”. C. Rồi Người cầm lấy chén, tạ ơn, trao cho các ông, và mọi người đều uống. Và Người bảo các ông: ? “Này là Máu Ta, Máu tân ước sẽ đổ ra cho nhiều người. Ta bảo thật các con: Ta sẽ chẳng còn uống rượu nho này nữa cho đến ngày Ta sẽ uống rượu mới trong nước Thiên Chúa”.

C. Sau khi hát Thánh Vịnh, Thầy trò đi lên núi Cây Dầu. Chúa Giêsu bảo các ông: ? “Đêm nay, tất cả các con sẽ vấp phạm vì Thầy, vì có lời chép rằng: ta sẽ đánh chủ chăn và đoàn chiên sẽ tan tác. Nhưng sau khi Thầy sống lại, Thầy sẽ đến xứ Galilêa trước các con”. C. Phêrô thưa Người: S. “Dù tất cả vấp phạm vì Thầy, nhưng con thì không”. C. Chúa Giêsu bảo ông: ? “Thầy bảo thật con: Hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Thầy ba lần”. C. Nhưng Phêrô càng lên giọng cương quyết hơn mà rằng: S. “Không, dầu phải chết với Thầy, con cũng sẽ không chối Thầy”. C. Và tất cả đều nói như vậy.

Đi đến một vườn kia tên là Ghếtsêmani, Người bảo các môn đệ: ? “Các con hãy ngồi lại đây trong khi Thầy đi cầu nguyện”. C. Rồi Người đem Phêrô, Giacôbê và Gioan theo Người và Người bắt đầu kinh sợ và buồn sầu. Người liền bảo các ông: ? “Linh hồn Thầy buồn đến chết được, các con hãy ở lại đây và tỉnh thức”.

C. Tiến xa hơn một chút, Người phục xuống đất, và cầu xin nếu có thể được thì xin cho qua khỏi giờ này. Và Người nguyện rằng: ? “Abba, Lạy Cha, Cha có thể làm được mọi sự, xin cất chén này khỏi con! Nhưng không theo ý con muốn, một theo ý Cha”. C. Người trở lại và thấy các ông đang ngủ, nên nói với Phêrô: ? “Simon, con ngủ ư? Con không có sức thức được một giờ sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ, vì tinh thần thì lanh lẹ, còn xác thịt thì yếu đuối”. C. Rồi Người đi khỏi đó và cầu nguyện cùng lời như trước. Khi trở lại lần nữa và thấy các ông còn ngủ (vì mắt các ông nặng trĩu) và các ông không còn biết thưa Người làm sao. Lần thứ ba, Người trở lại và bảo: ? “Bây giờ các con hãy ngủ và nghỉ ngơi đi. Thế là xong! Giờ đã đến: Này Con Người sắp bị nộp trong tay những kẻ tội lỗi. Thôi! hãy chỗi dậy, chúng ta đi, kẻ nộp Thầy đã tới nơi”. C. Người còn đang nói, thì Giuđa Iscariô, một trong nhóm Mười Hai đến, cùng đi với một toán đông mang gươm giáo và gậy gộc do các thượng tế, luật sĩ và kỳ lão sai đến. Trước đó, tên phản bội đã ra hiệu cho chúng rằng: S. “Hễ tôi hôn mặt ai, thì đó chính là Ngài, các ông cứ bắt lấy và điệu đi cho cẩn thận”. C. Vừa đến, nó liền tới gần Người mà nói: S. “Chào Thầy”. C. Và nó hôn Người. Và chúng tra tay bắt Người. Nhưng một người trong những kẻ đứng xung quanh rút gươm chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt một tai. Chúa Giêsu nói với chúng rằng: ? “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp! Hằng ngày, Ta ở giữa các ngươi, giảng dạy trong đền thờ mà sao các ngươi không bắt Ta. Nhưng thế là để ứng nghiệm lời Kinh Thánh”. C. Bấy giờ môn đệ bỏ Người và trốn đi hết. Có một thanh niên theo Người, mình chỉ quấn một tấm khăn, họ túm lấy anh ta, nhưng anh ta bỏ tấm khăn lại và chạy trốn mình trần.

Chúng điệu Chúa Giêsu đến thầy thượng tế, các tư tế, luật sĩ và kỳ lão hội lại đông đủ. Còn Phêrô theo Người xa xa đến tận trong dinh thượng tế và ngồi sưởi lửa với đám đầy tớ. Vậy các thầy thượng tế và toàn thể công nghị tìm một chứng cáo Chúa Giêsu để giết Người, song họ không tìm ra. Có nhiều kẻ đã cáo gian Người, nhưng các chứng đó không hợp nhau. Tuy nhiên có nhiều kẻ đứng lên làm chứng gian cho Người rằng: S. “Chúng tôi đã nghe nó nói: Ta sẽ phá hủy đền thờ này do tay loài người làm ra, và trong ba ngày, Ta sẽ xây lại một đền thờ khác không bởi tay loài người làm ra”. C. Nhưng chứng cớ của họ cũng không hợp nhau. Khi ấy, thầy thượng tế đứng lên giữa công nghị hỏi Chúa Giêsu rằng: S. “Sao ông không trả lời gì về những điều các người này tố cáo ông”. C. Nhưng Người vẫn thinh lặng và không đáp lại gì. Thầy thượng tế lại hỏi: S. “Ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa đáng chúc tụng chăng?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Phải, chính Ta! Rồi các ông sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đấng toàn năng và ngự đến trên đám mây”. C. Thầy thượng tế liền xé áo mình ra và nói: S. “Chúng ta còn cần chi đến nhân chứng nữa? Các ông đã nghe lời nói lộng ngôn, các ông nghĩ sao?” C. Ai nấy đều lên án Người đáng chết. Rồi có kẻ bắt đầu nhổ vào Người, che mặt Người và đánh đấm Người mà rằng:
S. “Hãy đoán xem!” C. Và bọn thủ hạ vả mặt Người.

Phêrô đang ở ngoài sân tiền đường, thì có một đầy tớ gái của thầy thượng tế đến, thấy Phêrô đang sưởi, thì nhìn ông và nói: S. “Ông cũng theo Giêsu, người Nadarét”. C. Nhưng ông chối phắt mà rằng: S. “Tôi không biết, tôi không hiểu cô muốn nói gì”. C. Rồi ông đi ra ngoài phía trước tiền đường, và gà liền gáy. Lần nữa người đầy tớ thấy ông, liền nói với những người xung quanh rằng: S. “Ông này thuộc bọn đó”. C. Nhưng ông lại chối. Một lúc sau, những người ở đó lại nói với Phêrô rằng:
S. “Đúng ông thuộc bọn đó, vì cả ông cũng là người Galilêa”.
C. Ông liền nguyền rủa nặng lời và thề rằng: S. “Tôi không biết người mà các ông nói đó”. C. Tức thì gà gáy lần thứ hai. Và Phêrô nhớ lại lời Chúa Giêsu đã bảo ông: “Trước khi gà gáy hai lần, con đã chối Ta ba lần”. Và ông liền than khóc.

Vừa tảng sáng, các thượng tế hội nghị với các kỳ lão, luật sĩ và toàn thể công nghị. Họ đã trói Chúa Giêsu và giải nạp Người cho Philatô. Philatô hỏi Người: S. “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Ông nói đúng!” C. Và các thầy thượng tế cáo Người nhiều điều. Philatô lại hỏi Người rằng: S. “Ông không trả lời gì ư? Hãy coi họ tố cáo Ông biết bao nhiêu điều!” C. Nhưng Chúa Giêsu không trả lời gì thêm, khiến Philatô ngạc nhiên. Vào mỗi dịp lễ, quan có thói quen phóng thích cho dân một người tù tùy ý họ xin. Bấy giờ trong khám có tên Baraba bị giam cùng với những kẻ phiến loạn, vì chúng đã giết người trong cuộc khởi loạn. Dân chúng tiến lên Philatô xin ân xá theo như quan quen làm. Vậy Philatô hỏi: S. “Các ngươi có muốn ta phóng thích cho các ngươi Vua dân Do-thái không?” C. (Vì quan đã biết rõ do lòng ghen tương mà các thượng tế nộp Người). Nhưng dân xin quan phóng thích Baraba cho họ. Philatô bảo dân chúng rằng: S. “Các ngươi muốn Ta làm gì cho vua dân Do-thái?” C. Nhưng chúng lại kêu lên: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Philatô đáp lại: S. “Người này đã làm gì nên tội?” C. Song chúng càng la to hơn: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Sau cùng Philatô muốn vừa lòng dân, liền tha Baraba và trao Chúa Giêsu cho chúng đánh đòn và đóng đinh vào thập giá. Quân lính điệu Người vào sân tiền đường và tập họp cơ đội lại. Chúng mặc áo choàng đỏ cho Người, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người. Đoạn chào Người rằng: S. “Tâu Vua dân Do-thái”. C. Rồi chúng lấy cây sậy đánh đầu Người, khạc nhổ vào Người và quỳ gối triều bái Người. Khi đã nhạo cười Người, chúng lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục lại cho Người và chúng điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Chúng gặp một người qua đường, tên là Simon, quê ở Xyrênê, là thân phụ của Alexanđrô và Rôphô vừa ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác đỡ thập giá cho Người. Chúng điệu Người đến nơi kia gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Chúng cho Người uống rượu pha mộc dược, nhưng Người không uống. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi chúng chia nhau áo Người bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào.

Vào lúc giờ thứ ba, chúng đã đóng đinh Người vào thập giá. Và có bản án ghi rằng: “Vua dân Do Thái”! Và cùng với Người, chúng đóng đinh hai tên trộm cướp vào thập giá, một đứa bên hữu, một đứa bên tả Người. Như vậy là ứng nghiệm lời Thánh Kinh rằng: “Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác”. Những người qua đường sỉ nhục Người, lắc đầu và nói: S. “Kìa! Kẻ phá đền thờ Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày: hãy tự cứu mình xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế với các luật sĩ cũng nhạo báng Người và nói với nhau: S. “Nó đã cứu được những kẻ khác mà không tự cứu mình! Bây giờ Đấng Kitô Vua Israel, hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta thấy mà tin nào!” C. Cả những kẻ cùng chịu đóng đinh với Người cũng lăng nhục Người. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, tối tăm bao trùm toàn thể lãnh thổ. Và đến giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng:
? “Eloi, Eloi, lamma sabachtani?” C. Nghĩa là:?? “Lạy Chúa con, lạy Chúa con, tại sao Chúa bỏ con?” C. Có mấy người đứng đó nghe thấy liền nói rằng: S. “Kìa, nó gọi Elia!” C. Bấy giờ có kẻ chạy đi nhúng miếng bông biển đầy dấm và cuốn vào cây sậy và đưa lên cho Người uống mà rằng: S. “Hãy đợi xem Elia có đến đem nó xuống không?” C. Nhưng Chúa Giêsu kêu một tiếng lớn và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới. Viên sĩ quan đứng trước mặt Người thấy Người kêu lên và trút hơi thở như thế, liền nói rằng: S. “Đúng người này là Con Thiên Chúa!” C. Cũng có những phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa, trong số đó có bà Maria Mađalêna, Maria mẹ của Giacôbê hậu và của Giuse, và bà Salômê, là những kẻ đã theo giúp Người khi Người còn ở xứ Galilêa. Và nhiều người khác cũng đã lên Giêrusalem với Người.

Trời đã xế chiều và hôm đó lại là ngày chuẩn bị, áp ngày Sabbat. Ông Giuse quê ở Arimathia, một hội viên vị vọng trong công nghị, cũng là người trông đợi nước Thiên Chúa, ông mạnh dạn đến gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Philatô ngạc nhiên nghe nói Người đã chết, ông gọi viên sĩ quan đến và hỏi xem Người đã chết thật chưa. Khi được viên sĩ quan phúc trình, quan trao xác Người cho Giuse. Giuse đã mua một khăn trắng, hạ xác Chúa Giêsu xuống khỏi thập giá, liệm vào khăn và đặt trong mộ đã đục sẵn trong đá, và lăn một tảng đá lấp cửa mộ. Lúc đó bà Maria Mađalêna và Maria mẹ ông Giuse nhìn xem nơi Người được an táng.
Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này Mc 15, 1-39

C. Vừa tảng sáng, các thượng tế hội nghị với các kỳ lão, luật sĩ và toàn thể công nghị. Họ đã trói Chúa Giêsu và giải nạp Người cho Philatô. Philatô hỏi Người: S. “Ông có phải là vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Ông nói đúng!”
C. Và các thầy thượng tế cáo Người nhiều điều. Philatô lại hỏi Người rằng: S. “Ông không trả lời gì ư? Hãy coi họ tố cáo Ông biết bao nhiêu điều!” C. Nhưng Chúa Giêsu không trả lời gì thêm, khiến Philatô ngạc nhiên. Vào mỗi dịp lễ, quan có thói quen phóng thích cho dân một người tù tùy ý họ xin. Bấy giờ trong khám có tên Baraba bị giam cùng với những kẻ phiến loạn, vì chúng đã giết người trong cuộc khởi loạn. Dân chúng tiến lên Philatô xin ân xá theo như quan quen làm. Vậy Philatô hỏi:
S. “Các ngươi có muốn ta phóng thích cho các ngươi Vua dân Do-thái không?” C. (Vì quan đã biết rõ do lòng ghen tương mà các thượng tế nộp Người). Nhưng dân xin quan phóng thích Baraba cho họ. Philatô bảo dân chúng rằng: S. “Các ngươi muốn Ta làm gì cho vua dân Do-thái?” C. Nhưng chúng lại kêu lên: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Philatô đáp lại: S. “Người này đã làm gì nên tội?” C. Song chúng càng la to hơn: S. “Đóng đinh nó đi!” C. Sau cùng Philatô muốn vừa lòng dân, liền tha Baraba và trao Chúa Giêsu cho chúng đánh đòn và đóng đinh vào thập giá. Quân lính điệu Người vào sân tiền đường và tập họp cơ đội lại. Chúng mặc áo choàng đỏ cho Người, rồi quấn một vòng gai đặt trên đầu Người. Đoạn chào Người rằng: S. “Tâu Vua dân Do-thái”. C. Rồi chúng lấy cây sậy đánh đầu Người, khạc nhổ vào Người và quỳ gối triều bái Người. Khi đã nhạo cười Người, chúng lột áo choàng đỏ ra, mặc y phục lại cho Người và chúng điệu Người đi đóng đinh vào thập giá. Chúng gặp một người qua đường, tên là Simon, quê ở Xyrênê, là thân phụ của Alexanđrô và Rôphô vừa ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác đỡ thập giá cho Người. Chúng điệu Người đến nơi kia gọi là Golgotha, nghĩa là Núi Sọ. Chúng cho Người uống rượu pha mộc dược, nhưng Người không uống. Chúng đóng đinh Người vào thập giá, rồi chúng chia nhau áo Người bằng cách bắt thăm xem ai được phần nào.

Vào lúc giờ thứ ba, chúng đã đóng đinh Người vào thập giá. Và có bản án ghi rằng: Vua dân Do Thái! Và cùng với Người, chúng đóng đinh hai tên trộm cướp vào thập giá, một đứa bên hữu, một đứa bên tả Người. Như vậy là ứng nghiệm lời Thánh Kinh rằng: Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác. Những người qua đường sỉ nhục Người, lắc đầu và nói: S. “Kìa! Kẻ phá đền thờ Thiên Chúa và xây lại trong ba ngày: hãy tự cứu mình xuống khỏi thập giá đi!” C. Các thượng tế với các luật sĩ cũng nhạo báng Người và nói với nhau: S. “Nó đã cứu được những kẻ khác mà không tự cứu mình! Bây giờ Đấng Kitô Vua Israel, hãy xuống khỏi thập giá đi để chúng ta thấy mà tin nào!” C. Cả những kẻ cùng chịu đóng đinh với Người cũng lăng nhục Người. Từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín, tối tăm bao trùm toàn thể
lãnh thổ. Và đến giờ thứ chín, Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng:
? “Eloi, Eloi, lema sabachtani!” C. Nghĩa là:?? “Lạy Chúa con, lạy Chúa con, Tại sao Chúa bỏ con!” C. Có mấy người đứng đó nghe thấy liền nói rằng: S. “Kìa, nó gọi Elia!” C. Bấy giờ có kẻ chạy đi nhúng miếng bông biển đầy dấm và cuốn vào cây sậy và đưa lên cho Người uống mà rằng: S. “Hãy đợi xem Elia có đến đem nó xuống không?” C. Nhưng Chúa Giêsu kêu một tiếng lớn và trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Màn trong đền thờ xé ra làm đôi từ trên xuống dưới. Viên sĩ quan đứng trước mặt Người thấy Người kêu lên và trút hơi thở như thế, liền nói rằng: S. “Đúng người này là Con Thiên Chúa!”

Đó là lời Chúa.

NĂM C
BÀI THƯƠNG KHÓ Lc 22, 14 – 23, 56

“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Luca.

Đến giờ, Chúa Giêsu vào bàn ăn với mười hai tông đồ và bảo các ông: ? “Thầy đã tha thiết ước ao ăn Lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ nạn. Thầy bảo các con, Thầy sẽ chẳng bao giờ ăn lễ này nữa, cho đến khi lễ này được thực hiện trong nước Thiên Chúa”. C. Rồi Người cầm chén, tạ ơn và phán: ? “Các con hãy lãnh nhận chén này mà chia cho nhau: Thầy bảo cho các con biết: Thầy sẽ không uống thứ nho này nữa cho đến khi nước Thiên Chúa đến!” C. Đoạn Người cầm bánh và tạ ơn, bẻ ra và trao cho các ông mà phán:?? “Này là Mình Ta hiến ban vì các con, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. C. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén mà phán: ? “Chén này là Tân ước trong Máu Ta sẽ đổ ra vì các con. Vả lại này tay kẻ nộp Ta đang ở gần Ta, ngay trên bàn này. Đành rằng Con Người sẽ ra đi như đã được ấn định, nhưng vô phúc cho kẻ nộp Người!” C. Bấy giờ các ông bắt đầu hỏi nhau xem ai trong nhóm họ là kẻ làm điều đó. Giữa các ông cũng xảy ra một cuộc tranh giành xem ai trong họ được coi là cao trọng hơn hết. Nhưng Người bảo: ? “Vua chúa các dân ngoại thì thống trị dân, và những kẻ có quyền hành trên dân thì bắt dân gọi mình là ân nhân. Phần các con, thì không như thế, vì ai cao trọng hơn (trong) các con thì hãy trở thành như người nhỏ nhất, và kẻ làm đầu, hãy trở thành như người hầu hạ. Vì người ngồi ăn và kẻ hầu hạ, ai trọng hơn, nào chẳng phải là người ngồi ăn ư? Thế mà Thầy, Thầy ở giữa các con như người hầu hạ. Còn các con, các con đã kiên trì với Thầy trong các cơn gian nan của Thầy, và Thầy xếp đặt nước trời cho các con như Cha Thầy đã xếp đặt cho Thầy, để các con sẽ được ăn uống đồng bàn trong nước Thầy, và được ngồi trên toà xét xử mười hai chi tộc Israel!” C. Rồi Chúa nói: ? “Simon, Simon, này ma quỷ đã đòi sàng các con như sàng gạo, nhưng Ta đã cầu nguyện để con khỏi mất đức tin. Và phần con, khi đã trở lại, con hãy làm cho anh em con vững tin”. C. Ông thưa Người: S. “Lạy Thầy, con sẵn sàng theo Thầy, dù vào tù hay đi chịu chết”. C. Nhưng Người đáp: ? “Phêrô, Thầy bảo cho con biết: hôm nay khi gà chưa gáy, con đã ba lần chối rằng không biết Thầy”. C. Và Người bảo các ông: ? “Khi Thầy sai các con đi không mang theo túi tiền, không bị, không giày dép, nào các con có thiếu thốn sự gì không?” C. Các ông thưa: S. “Không thiếu gì cả”. C. Vậy Người nói: ? “Nhưng bây giờ ai có túi tiền, hãy cầm lấy, ai có bị, cũng hãy làm như vậy, và ai không có gươm, thì hãy bán áo choàng mình mà mua lấy gươm. Vì Thầy bảo các con hay: còn điều này chép về Thầy cũng cần phải được ứng nghiệm: ‘Người đã bị liệt vào số những kẻ gian ác’. Vì mọi điều đã chép về Thầy phải được hoàn tất”. C. Các ông thưa Người: S. “Thưa Thầy, này có hai thanh gươm đây”. C. Và Người bảo: ? “Đủ rồi”.

C. Đoạn Người ra đi lên núi cây ôliu như thường lệ. Các môn đệ cũng đi theo Người. Đến nơi, Người bảo các ông:
? “Các con hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ”. C. Rồi Người đi xa các ông một quãng bằng ném một hòn đá và quỳ gối cầu nguyện rằng: ? “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cất chén này xa con. Nhưng xin đừng theo ý con muốn, một theo ý Cha”. C. Bấy giờ có thiên thần từ trời hiện ra an ủi Người. Và lâm cơn hấp hối, Người cầu nguyện thiết tha hơn, và mồ hôi Người chảy ra như những giọt máu rơi xuống đất. Cầu nguyện xong, Người đứng dậy, trở lại chỗ các môn đệ, và thấy các ông còn đang ngủ vì buồn sầu. Người liền bảo: ? “Các con ngủ ư? Hãy dậy và cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ”. C. Người còn đang nói, thì này đây (xuất hiện) một lũ đông, và một người trong nhóm Mười Hai là Giuđa dẫn đầu. Hắn lại gần Chúa Giêsu để hôn Người. Chúa Giêsu bảo hắn: ? “Giuđa, ngươi lấy cái hôn để nộp Con Người ư?” C. Thấy các sự sắp xảy ra, những kẻ đứng chung quanh Người liền hỏi: S. “Thưa Thầy, chúng con có nên dùng gươm mà chém không?” C. Và một người trong các ông chém tên đầy tớ thầy thượng tế đứt tai phải. Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo: ? “Thôi, đủ rồi”. C. Và Người sờ vào tai người đầy tớ ấy mà chữa cho y lành lại. Rồi Chúa Giêsu bảo các kẻ đến bắt Người gồm các thượng tế, trưởng vệ binh đền thờ và kỳ lão rằng: ? “Các ngươi cầm gươm giáo gậy gộc đi bắt Ta như bắt tên cướp ư? Hằng ngày Ta ngồi trong đền thờ giữa các ngươi mà các ngươi không bắt Ta. Nhưng đây là giờ của các ngươi và của quyền lực tối tăm”. C. Chúng liền bắt Người và điệu tới nhà thầy thượng tế. Còn Phêrô đi theo xa xa.

Họ đốt lửa ngay giữa sân và ngồi vòng quanh, Phêrô cũng ngồi lẫn với họ. Một đứa đầy tớ gái thấy ông ngồi gần lửa, thì nhìn kỹ ông và bảo: S. “Cả ông này cũng theo hắn”. C. Nhưng ông chối và nói: S. “Này chị, tôi đâu quen biết người ấy”.
C. Một lát sau, có người khác nhìn ông và nói: S. “Chính ông cũng là người trong bọn đó”. C. Nhưng Phêrô đáp: S. “Này anh, đâu có phải tôi”. C. Chừng một giờ sau, một người khác lại quả quyết rằng: S. “Đúng ông này cũng theo người ấy: vì ông ta cũng là người xứ Galilêa”. C. Phêrô đáp: S. “Này anh, tôi không biết anh muốn nói gì?” C. Khi ông còn đang nói, thì lập tức gà liền gáy. Chúa Giêsu quay lại nhìn Phêrô. Bấy giờ Phêrô mới sực nhớ lời Chúa đã bảo ông trước: Khi gà gáy, con đã chối Thầy ba lần. Phêrô liền ra ngoài và khóc lóc thảm thiết.

Những kẻ canh giữ người, nhạo cười và đánh đập Người. Chúng che mặt Người, vả mặt mà hỏi Người rằng: S. “Hãy đoán xem ai đánh ngươi đó”. C. Và chúng còn thốt ra nhiều lời khác nhục mạ Người. Vừa sáng ngày, các kỳ lão trong dân, các thượng tế và các luật sĩ hội lại và cho điệu Người ra trước công nghị mà nói: S. “Nếu ông là Đấng Kitô, hãy nói cho chúng tôi hay”. C. Người trả lời: ? “Tôi có nói, các ông cũng chẳng tin tôi, và nếu tôi có hỏi, các ông cũng chẳng trả lời và cũng chẳng tha tôi. Nhưng từ giờ đây, Con Người sẽ ngự bên hữu Thiên Chúa toàn năng”. C. Mọi người đều hỏi lại: S. “Vậy ông là Con Thiên Chúa ư?” C. Người đáp: ? “Các ông nói đúng, Ta là Con Thiên Chúa”.
C. Bấy giờ họ nói: S. “Chúng ta còn cần chứng cớ chi nữa? Vì chính chúng ta cũng nghe y nói”. C. Đoạn tất cả bọn họ đứng dậy và giải Người đến Philatô.

Họ bắt đầu tố cáo Người rằng: S. “Chúng tôi đã thấy người này xúi giục dân nổi loạn, ngăn cản nộp thuế cho Cêsarê, và còn tự xưng là Kitô Vua”. C. Philatô bảo các thượng tế và đám đông rằng: S. “Ta không thấy người này có tội gì”. C. Nhưng họ cố nài rằng: S. “Người này đã làm náo động dân chúng, giảng dạy khắp xứ Giuđêa, bắt đầu từ Galilêa đến đây”. C. Philatô vừa nghe nói đến Galilêa, liền hỏi cho biết có phải đương sự là người xứ Galilêa không. Và khi đã biết Người thuộc thẩm quyền Hêrôđê, quan liền sai giải Người cho Hêrôđê cũng có mặt tại Giêrusalem trong những ngày ấy. Hêrôđê thấy Chúa Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu ông ao ước thấy Người, bởi đã nghe nói về Người rất nhiều, và hy vọng xem Người làm một vài phép lạ. Nhà vua hỏi Người rất nhiều lời, nhưng Người không đáp gì hết. Trong khi ấy, các thượng tế và luật sĩ ở đó tố cáo Người dữ dội. Còn Hêrôđê cùng các quan lính thì khinh dể và nhạo báng Người, đoạn khoác cho Người một cái áo choàng trắng và gởi trả Người cho Philatô. Chính ngày đó, Hêrôđê và Philatô trở thành bạn hữu, vì trước kia họ là thù địch với nhau.

Bấy giờ Philatô triệu tập các thượng tế, các thủ lãnh và dân chúng lại, rồi bảo họ: S. “Các ngươi đã nộp cho ta người này như một kẻ xúi giục dân làm loạn, nhưng đây ta đã tra xét trước mặt các ngươi, và ta không thấy người này phạm tội nào trong những tội các ngươi tố cáo. Cả vua Hêrôđê cũng thấy như vậy, vì ta đã cử các ngươi đến nhà vua và nhà vua cũng không thấy có chi đáng tội chết cả. Vậy ta sẽ cho sửa phạt, rồi tha đi”.
C. Mỗi dịp lễ, quan tổng trấn phải phóng thích cho họ một người tù. Vậy toàn dân đồng thanh kêu lên: S. “Hãy giết người này, và tha Baraba cho chúng tôi”. C. Tên này vì dấy loạn trong thành và giết người, nên đã bị tống ngục. Nhưng Philatô muốn tha Chúa Giêsu, nên lại nói với dân chúng. Nhưng chúng càng la to hơn và nói: S. “Hãy đóng đinh nó, hãy đóng đinh nó vào thập giá!” C. Lần thứ ba, quan lại nói với dân chúng: S. “Người này đã làm gì xấu? Ta không thấy nơi ông ấy có lý do để lên án tử hình. Vậy ta sẽ trừng phạt, rồi tha đi”. C. Chúng lại la lớn tiếng, nhất định đòi đóng đinh Người vào thập giá, và tiếng la hét của chúng càng dữ dội hơn. Philatô liền tuyên án theo lời chúng yêu cầu. Vậy quan phóng thích tên đã bị cầm tù vì dấy loạn và giết người, là kẻ mà chúng đã xin tha, còn Chúa Giêsu thì quan trao phó để mặc ý chúng.

Khi điệu Người đi, chúng bắt một người xứ Xyrênê, tên Simon, ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác thập giá theo sau Chúa Giêsu. Đám đông dân chúng theo Người, có cả mấy người phụ nữ khóc thương Người. Nhưng Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại bảo họ rằng: ? “Hỡi con gái Giêrusalem, đừng khóc thương Ta, hãy khóc thương chính các ngươi và con cái các ngươi. Vì này, sắp đến ngày người ta sẽ than rằng: “Phúc cho người son sẻ, phúc cho những lòng không sinh nở và những vú không nuôi con”. Bấy giờ người ta sẽ lên tiếng với núi non rằng: “Hãy đổ xuống đè chúng tôi”, và nói với các gò nổng rằng: “Hãy che lấp chúng tôi đi”. Vì nếu cây tươi còn bị xử như vậy, thì gỗ khô sẽ ra sao?” C. Cùng với Người, chúng còn điệu hai tên gian ác nữa đi xử tử. Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu và một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: ? “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. C. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Dân chúng đứng đó nhìn xem, và các thủ lãnh thì cười nhạo Người mà rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác, thì hãy tự cứu mình đi nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. C. Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: S. “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”. C. Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người này là vua dân Do-thái”. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: S. “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”. C. Đối lại, tên kia mắng nó rằng: S. “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao. Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn Ông này, Ông có làm gì xấu đâu?” C. Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: S. “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. C. Chúa Giêsu đáp: ? “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

C. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ xé ra làm đôi ngay chính giữa. Lúc đó Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng: ?“Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha”. C. Nói đoạn, Người trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Thấy sự việc xảy ra, viên sĩ quan ca tụng Thiên Chúa rằng:
S. “Ông này quả thật là người công chính”. C. Và tất cả dân chúng có mặt thấy cảnh tượng đó, và chứng kiến những sự việc xảy ra, liền đấm ngực trở về.

Đứng xa xa, có những kẻ quen biết Người, và mấy phụ nữ đi theo Người từ xứ Galilêa, họ cũng chứng kiến. Tuy nhiên, có một công nghị viên tên là Giuse, người tốt lành và công chính. Ông này đã không đồng ý với mưu toan và hành động của các công nghị viên khác, ông quê ở thành Arimathia trong xứ Giuđêa, chính ông cũng trông đợi nước Chúa. Ông đến gặp Philatô và xin xác Chúa Giêsu. Đoạn ông hạ xác Người xuống, liệm trong khăn và táng trong mồ đá đục sẵn, nơi chưa táng xác ai. Hôm đó là ngày chuẩn bị và sắp bước sang ngày Sabbat. Trong khi đó, những người phụ nữ đã đi với Người từ xứ Galilêa, cũng theo đến xem mồ và xác Người được táng như thế nào. Rồi các bà về sửa soạn thuốc thơm và dầu thơm. Nhưng trong ngày Sabbat, các bà nghỉ theo đúng luật.

Đó là lời Chúa.

Hoặc đọc bài vắn này Lc 23, 1-49

C. Khi ấy, tất cả công nghị đứng dậy và giải Người đến Philatô.

Họ bắt đầu tố cáo Người rằng: S. “Chúng tôi đã thấy người này xúi giục dân nổi loạn, ngăn cản nộp thuế cho Cêsarê, và còn tự xưng là Kitô Vua”. C. Philatô bảo các thượng tế và đám đông rằng: S. “Ta không thấy người này có tội gì”. C. Nhưng họ cố nài rằng: S. “Người này đã làm náo động dân chúng, giảng dạy khắp xứ Giuđêa, bắt đầu từ Galilêa đến đây”. C. Philatô vừa nghe nói đến Galilêa, liền hỏi cho biết có phải đương sự là người xứ Galilêa không. Và khi đã biết Người thuộc thẩm quyền Hêrôđê, quan liền sai giải Người cho Hêrôđê cũng có mặt tại Giêrusalem trong những ngày ấy. Hêrôđê thấy Chúa Giêsu thì mừng rỡ lắm, vì từ lâu, ông ao ước thấy Người, bởi đã nghe nói về Người rất nhiều, và hy vọng xem Người làm một vài phép lạ. Nhà vua hỏi Người rất nhiều lời, nhưng Người không đáp gì hết. Trong khi ấy, các thượng tế và luật sĩ ở đó tố cáo Người dữ dội. Còn Hêrôđê cùng các quan lính thì khinh dể và nhạo báng Người, đoạn khoác cho Người một cái áo choàng trắng và gởi trả Người cho Philatô. Chính ngày đó, Hêrôđê và Philatô trở thành bạn hữu, vì trước kia họ là thù địch với nhau.

Bấy giờ Philatô triệu tập các thượng tế, các thủ lãnh và dân chúng lại, rồi bảo họ: S. “Các ngươi đã nộp cho ta người này như một kẻ xúi giục dân làm loạn, nhưng đây ta đã tra xét trước mặt các ngươi, và ta không thấy người này phạm tội nào trong những tội các ngươi tố cáo. Cả vua Hêrôđê cũng thấy như vậy, vì ta đã cử các ngươi đến nhà vua và nhà vua cũng không thấy có chi đáng tội chết cả. Vậy ta sẽ cho sửa phạt, rồi tha đi”. C. Mỗi dịp lễ, quan tổng trấn phải phóng thích cho họ một người tù. Vậy toàn dân đồng thanh kêu lên: S. “Hãy giết người này, và tha Baraba cho chúng tôi”. C. Tên này vì dấy loạn trong thành và giết người, nên đã bị tống ngục. Nhưng Philatô muốn tha Chúa Giêsu, nên lại nói với dân chúng. Nhưng chúng càng la to hơn và nói: S. “Hãy đóng đinh nó, hãy đóng đinh nó vào thập giá!” C. Lần thứ ba, quan lại nói với dân chúng: S. “Người này đã làm gì xấu? Ta không thấy nơi ông ấy có lý do để lên án tử hình. Vậy ta sẽ trừng phạt, rồi tha đi”. C. Chúng lại la lớn tiếng, nhất định đòi đóng đinh Người vào thập giá, và tiếng la hét của chúng càng dữ dội hơn. Philatô liền tuyên án theo lời chúng yêu cầu. Vậy quan phóng thích tên đã bị cầm tù vì dấy loạn và giết người, là kẻ mà chúng đã xin tha, còn Chúa Giêsu thì quan trao phó để mặc ý chúng.

Khi điệu Người đi, chúng bắt một người xứ Xyrênê, tên Simon, ở ngoài đồng về, chúng bắt ông vác thập giá theo sau Chúa Giêsu. Đám đông dân chúng theo Người, có cả mấy người phụ nữ khóc thương Người. Nhưng Chúa Giêsu ngoảnh mặt lại bảo họ rằng: ? “Hỡi con gái Giêrusalem, đừng khóc thương Ta, hãy khóc thương chính các ngươi và con cái các ngươi. Vì này, sắp đến ngày người ta sẽ than rằng: ‘Phúc cho người son sẻ, phúc cho những lòng không sinh nở và những vú không nuôi con!’. Bấy giờ người ta sẽ lên tiếng với núi non rằng: ‘Hãy đổ xuống đè chúng tôi!’, và nói với các gò nổng rằng: ‘Hãy che lấp chúng tôi đi!’. Vì nếu cây tươi còn bị xử như vậy, thì gỗ khô sẽ ra sao?” C. Cùng với Người, chúng còn điệu hai tên gian ác nữa đi xử tử. Khi đã đến nơi gọi là Núi Sọ, chúng đóng đinh Người vào thập giá cùng với hai tên trộm cướp, một đứa bên hữu và một đứa bên tả Người. Bấy giờ Chúa Giêsu than thở rằng: ? “Lạy Cha, xin tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm”. C. Rồi chúng rút thăm mà chia nhau áo Người. Dân chúng đứng đó nhìn xem, và các thủ lãnh thì cười nhạo Người mà rằng: S. “Nó đã cứu được kẻ khác thì hãy tự cứu mình đi, nếu nó thật là Đấng Kitô, người Thiên Chúa tuyển chọn”. C. Quân lính đều chế diễu Người và đưa dấm cho Người uống và nói: S. “Nếu ông là vua dân Do-thái, ông hãy tự cứu mình đi”. C. Phía trên đầu Người có tấm bảng đề chữ Hy-lạp, La-tinh và Do-thái như sau: “Người này là vua dân Do-thái”. Một trong hai kẻ trộm bị đóng đinh trên thập giá cũng sỉ nhục Người rằng: S. “Nếu ông là Đấng Kitô, ông hãy tự cứu ông và cứu chúng tôi nữa”. C. Đối lại, tên kia mắng nó rằng: S. “Mi cũng chịu đồng một án mà mi chẳng sợ Thiên Chúa sao. Phần chúng ta, như thế này là đích đáng, vì chúng ta chịu xứng với việc chúng ta đã làm, còn Ông này, Ông có làm gì xấu đâu?” C. Và anh ta thưa Chúa Giêsu rằng: S. “Lạy Ngài, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi”. C. Chúa Giêsu đáp: ? “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta”.

C. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu, tối tăm liền bao trùm cả mặt đất cho đến giờ thứ chín. Mặt trời trở nên u ám, màn trong đền thờ xé ra làm đôi ngay chính giữa. Lúc đó Chúa Giêsu kêu lớn tiếng rằng: ? “Lạy Cha, Con phó linh hồn Con trong tay Cha”. C. Nói đoạn, Người trút hơi thở.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)
Thấy sự việc xảy ra, viên sĩ quan ca tụng Thiên Chúa rằng:
S. “Ông này quả thật là người công chính”. C. Và tất cả dân chúng có mặt thấy cảnh tượng đó, và chứng kiến những sự việc xảy ra, liền đấm ngực trở về.

Đứng xa xa, có những kẻ quen biết Người, và mấy phụ nữ đi theo Người từ xứ Galilêa, họ cũng chứng kiến.

Đó là lời Chúa.

23- Sau bài Thương Khó, có thể giảng vắn tắt.

Đọc Kinh Tin Kính

24- Lời nguyện tiến lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng, cúi xin Chúa nhớ lại cuộc khổ hình của Đức Kitô, và cho chúng con được làm hòa cùng Chúa. Thật chúng con chẳng làm gì nên công trạng, nhưng chúng con đã tin sẽ được Chúa mở lượng khoan hồng tha thứ, nhờ hiến lễ độc nhất vô song của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

25- Lời tiền tụng

Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con.

Người là Đấng vô tội, đã cam chịu khổ hình thay cho những người tội lỗi, và bằng lòng chịu kết án bất công thay cho kẻ gian tà. Người đã chết để tẩy trừ tội lỗi, và đã sống lại để thánh hóa chúng con.

Vì thế cùng với toàn thể thiên thần và các thánh, chúng con ca ngợi Cha, và vui mừng phấn khởi tung hô rằng:

Thánh ! thánh ! chí thánh !

26- Ca hiệp lễ Mt 26, 42

Lạy Cha, chén đắng này, nếu con phải uống,
không sao tránh được,
Thì xin vâng ý Cha.

27- Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Chúa, tại bàn tiệc Thánh Thể, Chúa cho chúng con được thỏa trí toại lòng, nhờ Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá, Chúa làm cho chúng con tin tưởng vững vàng sẽ được cứu độ, thì nhờ mầu nhiệm Người đã phục sinh, xin cho chúng con đạt tới quê trời như lòng hằng mong ước. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

NGHI THỨC THỨ NĂM TUẦN THÁNH

Mỗi người Kitô hữu cũng như toàn dân Thiên Chúa cảm thấy có nhu cầu phải lần lượt ôn lại, trong kỳ lễ vượt qua hằng năm, những gì xẩy ra trong cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu như các sách Tin Mừng thuật lại. Từ bữa tối Người ăn với các môn đệ trước khi chịu chết cho đến lần Người hiện ra với những môn đệ đó ngày Chúa Nhật kế tiếp, tất cả những gì Người đã làm nhất là việc Người chịu chết và sống lại, đều đem lại ơn cứu độ, tất cả những gì Người đã nói đều là lời cứu độ.

Giáo hội xưa nay vẫn đặc biệt lưu tâm đến việc cử hành ba ngày trọng đại nhất “trong đó Chúa Kitô sẽ chịu đau khổ, đã an nghỉ và đã phục sinh” (thánh Ambrôsiô). Tam Nhật Vượt Qua bắt đầu từ thánh lễ chiều thứ Năm Tuần Thánh và kết thúc chiều ngày Phục Sinh, sau khi đã đạt tới những giờ phút sốt sắng nhất trong buổi canh thức đêm thánh, gồm tóm lại tất cả việc cử hành mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô.

Tam Nhật Vượt Qua liên hệ đến đời sống thâm sâu nhất của mỗi cộng đoàn Kitô hữu, vì toàn thể dân Thiên Chúa đều cùng với Chúa Kitô thực hiện cuộc vượt qua đi về với Chúa Cha. Đêm Vượt Qua là đêm thanh tẩy long trọng nhất trong năm, và các tín hữu cầu nguyện cách khẩn thiết hơn trong hai này mà các anh chị em dự tòng trực tiếp sửa soạn để được cùng chết và sống lại với Chúa Kitô. Cũng trong chiều hướng ấy, người có tội chuẩn bị bằng hai ngày ăn chay, tức là ngày thứ Sáu và nếu được, cả ngày thứ Bảy nữa để được làm hòa với Thiên Chúa và với anh chị em, nếu chưa lãnh bí tích Hòa Giải trong những ngày cuối Mùa Chay. Ngoài việc liên đới nói trên với các người dự tòng và những người sắp được ngồi lại vào bàn ăn của Chúa, tất cả các Kitô hữu cũng mừng lễ Phục Sinh khi họ lặp lại các lời đã cam kết khi chịu thanh tẩy, và khi họ tham dự bàn tiệc Thánh Thể. Vì thế, ta có thể áp dụng cho cả Tam Nhật Vượt Qua chỉ thị mà một trong những tài liệu cổ nhất về Phụng vụ đã ra về Đêm Thánh: “Toàn dân phải ở trong ánh sáng”.

THỨ NĂM TUẦN THÁNH
THÁNH LỄ CHIỀU – THÁNH LỄ TIỆC LY
Ý NGHĨA
Mỗi năm, dân Do Thái ăn lễ vượt qua để tưởng niệm việc họ đã được Thiên Chúa giải thoát khỏi cảnh áp bức, và giao ước với họ. Chúa Giêsu Kitô đã khai mào cuộc thương khó khi cùng với các môn đệ dùng bữa ăn vượt qua đó. Nhưng Người đã muốn cho bữa ăn này trở thành bữa tiệc của giao ước mới, giao ước Người lập khi đổ máu hy sinh trên thánh giá. Vì thế, khi trao cho các môn đệ tấm bánh và chén rượu, là đồ ăn thức uống đã trở thành Mình và Máu của Người, Người đã thiết lập nghi thức tưởng niệm lễ tế mà hôm sau Người sẽ dâng trên thập giá.

Mỗi lần cử hành thánh lễ chúng ta cũng tái diễn bữa tiệc của Chúa để nhớ đến Người, để tưởng niệm Người đã chịu chết, mừng vui vì Người hiện diện, và trông mong Người trở lại. Nhưng chúng ta tưởng niệm cách sốt sắng hơn cả, trong thánh lễ thứ Năm Tuần Thánh. Thánh lễ này cử hành vào buổi chiều, với đông đủ giáo dân tham dự sau một ngày làm việc, và với tất cả các linh mục trong giáo xứ đồng tế để cho thấy rằng chức tư tế chỉ là một. Sau bài diễn giảng, vị chủ tế làm lại cử chỉ của Chúa Giêsu và rửa chân cho 12 đại diện cộng đoàn tín hữu. Trong khung cảnh đặc biệt của ngày lễ, không bài giảng nào nói rõ hơn rằng chức linh mục là để phục vụ, cho bằng việc chủ tế quỳ xuống trước mặt người anh em như thế.

Lễ xong, mỗi người có thể yên lặng chầu Thánh Thể và suy gẫm những lời tâm sự cuối cùng của Chúa Giêsu nói với các môn đệ trước khi vào vườn Ghêtsêmani, nhất là suy gẫm lời trối long trọng nhất: “Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em”.

NHỮNG ĐỒ CẦN CHUẨN BỊ

1. Trên bàn thờ chính:
- Bàn thờ trang trí trọng thể
- Nhà tạm để trống

2. Trên bàn nhỏ cạnh bàn thờ chính:
- Tất cả những đồ cần dùng trong thánh lễ, riêng bánh lễ, dự trù số cần thiết cho lễ hôm nay và ngày mai.
- Chuông và mõ sẽ thế chuông.
- Khăn choàng khi kiệu Mình Thánh.
- Nếu rửa chân: chậu thau, bình nước, khăn lau.

3. Trong cung thánh:
- Ghế cho chủ tế và các phụ tế.
- Ghế cho những người được rửa chân.

4. Trong phòng thánh:
- Lễ phục trắng cho chủ tế và các phụ tế.
- Hương, lửa.
- Đèn dùng khi đi kiệu Mình thánh.

5. Trên bàn thờ sẽ đặt Mình Thánh:
- Nhà tạm, khăn thánh.
- Đèn, hoa.

QUY LUẬT CẦN BIẾT

Theo truyền thống lâu đời của Hội thánh, hôm nay cấm cử hành mọi thánh lễ không có giáo dân tham dự.

Thánh lễ Tiệc Ly cử hành ban chiều lúc thuận tiện, có toàn thể cộng đoàn địa phương tham dự đông đủ, trong khi các linh mục và thừa tác viên thi hành phận vụ mình.

Các linh mục đã đồng tế trong thánh lễ làm Phép Dầu, hoặc đã cử hành thánh lễ vì lợi ích giáo dân, thì lại được đồng tế trong thánh lễ Chiều nữa.

Nơi nào lý do mục vụ đòi hỏi, thì Đấng Thường Quyền Sở Tại có thể cho cử hành một lễ thứ hai trong các nhà thờ, nhà nguyện công và bán công, vào ban chiều. Còn trong trường hợp thật sự cần thiết, có thể cho phép cử hành thánh lễ cả vào lúc ban sáng, nhưng chỉ dành cho các tín hữu không có cách nào tham dự thánh lễ ban Chiều được. Tuy nhiên đừng cử hành chỉ vì lợi ích riêng tư, kẻo làm thiệt hại cho việc cử hành thánh lễ chính ban chiều.

Chỉ có thể cho giáo dân rước lễ trong thánh lễ mà thôi; nhưng bất cứ giờ nào trong ngày, cũng có thể đem Mình Thánh Chúa cho bệnh nhân.

NGHI THỨC ĐẦU LỄ VÀ PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

1- Nhà Tạm hoàn toàn để trống; trong thánh lễ chiều nay, sẽ được truyền phép bánh thánh đủ cho giáo sĩ và giáo dân rước lễ hôm hay và ngày mai.

2- Ca nhập lễ x. Gl 6,14

Chúng ta phải hãnh diện
Về thập giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.
Nơi Người, ta được giải thoát,
Được sống và được sống lại;
Chính Người giải thoát và cứu độ ta.

3- Đọc hay hát Kinh Vinh Danh, trong lúc đọc hay hát kinh này thì rung chuông. Sau đó không rung chuông nữa cho đến Vọng Phục Sinh, trừ khi Hội Đồng Giám Mục hay Đấng Thường Quyền đã quy định thể khác.

4- Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, trong bữa tiệc ly trọng đại, trước ngày tự hiến thân chịu khổ hình, Đức Giêsu đã trối cho Hội thánh một hy lễ mới muôn đời tồn tại làm bằng chứng tình thương của Người. Chiều nay, chúng con đến tham dự yến tiệc cực thánh, như lời Người truyền dạy, xin Chúa cho tất cả chúng con được tràn đầy tình yêu và sức sống viên mãn của Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.

BÀI ĐỌC I Xh 12, 1-8.11-14

Sách Xuất Hành đưa ra những chỉ thị về bữa ăn Vượt Qua, trong đó người Israel ăn thịt con chiên và lấy máu nó bôi lên khung cửa; nhờ máu này, các con đầu lòng của họ được thoát chết, trong khi các con đầu lòng người Aicập bị tàn sát. Từ đó, hằng năm họ ăn bữa tiệc Vượt Qua, để tưởng niệm ơn Chúa đã cứu họ khỏi ách nô lệ Aicập, và để Thiên Chúa hoàn thành ơn cứu thoát ấy.

“Những chỉ thị về bữa Tiệc Vượt qua”.

Bài trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê và Aaron ở đất Ai-cập rằng: Tháng này các ngươi phải kể là tháng đầu năm, tháng thứ nhất. Hãy nói với toàn thể cộng đồng con cái Israel rằng: “Mùng mười tháng này, ai nấy phải bắt một chiên con, mỗi gia đình, mỗi nhà một con. Nếu nhà ít người, không ăn hết một con chiên, thì phải mời người láng giềng đến nhà cho đủ số người để ăn một con chiên. Chiên đó không được có tật gì, phải là chiên đực, được một năm. Có bắt dê con cũng phải làm như thế. Vậy phải để dành cho đến ngày mười bốn tháng này, rồi vào lúc chập tối, toàn thể cộng đồng con cái Israel sẽ giết nó, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Đêm ấy sẽ ăn thịt nướng với bánh không men và rau đắng. Phải ăn như thế này: Phải thắt lưng, chân đi dép, tay cầm gậy và ăn vội vã: vì đó là ngày Vượt Qua của Chúa. Đêm ấy Ta sẽ đi qua xứ Ai-cập, sẽ giết các con đầu lòng trong xứ Ai-cập, từ loài người cho đến súc vật, và Ta sẽ trừng phạt chư thần xứ Ai-cập: vì Ta là Chúa. Máu bôi trên nhà các ngươi ở, sẽ là dấu hiệu; và khi thấy máu, Ta sẽ đi qua mà tha cho các ngươi, và các ngươi sẽ không bị tai ương tác hại khi Ta giáng hoạ trên xứ Ai-cập. Các ngươi hãy ghi nhớ ngày ấy, làm lễ tưởng niệm, và phải mừng ngày đó trọng thể kính Thiên Chúa. Các ngươi sẽ lập lễ này để mừng vĩnh viễn muôn đời”.

Đó là lời Chúa.
ĐÁP CA Tv 115, 12-13. 15-16bc. 17-18

Đáp: Chén chúc tụng là sự thông hiệp Máu Chúa Kitô.

1) Tôi lấy gì dâng lại cho Chúa để đền đáp những điều Ngài ban tặng cho tôi? Tôi sẽ lãnh chén cứu độ, và tôi sẽ kêu cầu danh Chúa. – Đáp.

2) Trước mặt Chúa, thật là quý hoá cái chết của những bậc thánh nhân Ngài. Con là tôi tớ Ngài, con trai của nữ tỳ Ngài, Ngài đã bẻ gẫy xiềng xích cho con. – Đáp.

3) Con sẽ hiến dâng Chúa lời ca ngợi làm sinh lễ, và con sẽ kêu cầu danh Chúa. Con sẽ giữ trọn lời khấn xin cùng Chúa, trước mặt toàn thể dân Ngài. – Đáp.

BÀI ĐỌC II 1Cr 11, 23-26

Đoạn thư gửi tín hữu Côrintô là bản tường thuật xưa nhất về việc thiết lập bí tích Thánh Thể. Trong bữa ăn sau hết cùng với các môn đệ, vào chính dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, Chúa Giêsu ban Mình và Máu Người cho các môn đệ như con Chiên Vượt Qua thật, hy sinh vì loài người mỗi khi cử hành thánh lễ, và đặc biệt chiều nay, chúng ta cũng tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu và được hưởng nhờ ơn cứu chuộc Người thực hiện cho chúng ta.

“Mỗi khi anh em ăn và uống,
anh em loan truyền việc Chúa chịu chết”.
Bài trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.

Anh em thân mến, phần tôi, tôi đã lãnh nhận nơi Chúa điều mà tôi đã truyền lại cho anh em, là Chúa Giêsu trong đêm bị nộp, Người cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra và phán: “Các con hãy lãnh nhận mà ăn, này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con: Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Cùng một thể thức ấy, sau bữa ăn tối, Người cầm lấy chén, và phán: “Chén này là Tân ước trong Máu Ta; mỗi khi các con uống, các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Vì mỗi khi anh em ăn bánh và uống chén này, anh em loan truyền việc Chúa chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến.

Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM Ga 13, 34

Chúa phán: “Thầy ban cho các con một giới răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”.

TIN MỪNG Ga 13, 1-15

Trong bữa ăn sau hết, trước khi đi qua từ trần gian về với Cha, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Đây là một hành động tượng trưng nói lên ý nghĩa của cuộc thương khó: Chính vì yêu thương mà Chúa Giêsu hạ mình xuống như một đầy tớ, để phục vụ đến hoàn toàn từ bỏ bản thân. Người cũng muốn chúng ta noi gương Người trong tình yêu phục vụ đó.

“Ngài yêu thương họ đến cùng”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Trước ngày Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết đã đến giờ mình phải bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha, Người vốn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn đang ở thế gian, thì đã yêu thương họ đến cùng. Sau bữa ăn tối, ma quỷ gieo vào lòng Giuđa Iscariô, con Simon, ý định nộp Người. Người biết rằng Chúa Cha đã trao phó mọi sự trong tay mình, và vì Người bởi Thiên Chúa mà đến và sẽ trở về cùng Thiên Chúa. Người chỗi dậy, cởi áo, lấy khăn thắt lưng, rồi đổ nước vào chậu; Người liền rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau. Vậy Người đến chỗ Simon Phêrô, ông này thưa Người rằng: “Lạy Thầy, Thầy định rửa chân cho con ư?” Chúa Giêsu đáp: “Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu, nhưng sau sẽ hiểu”. Phêrô thưa lại: “Không đời nào Thầy sẽ rửa chân cho con”. Chúa Giêsu bảo: “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con sẽ không được dự phần với Thầy”. Phêrô liền thưa: “Vậy xin Thầy hãy rửa không những chân con, mà cả tay và đầu nữa”. Chúa Giêsu nói: “Kẻ mới tắm rồi chỉ cần rửa chân, vì cả mình đã sạch. Tuy các con đã sạch, nhưng không phải hết thảy đâu”. Vì Người biết ai sẽ nộp Người nên mới nói: “Không phải tất cả các con đều sạch đâu”.

Sau khi đã rửa chân cho các ông, Người mặc áo lại, và khi đã trở về chỗ cũ, Người nói: “Các con có hiểu biết việc Thầy vừa làm cho các con chăng? Các con gọi Ta là Thầy và là Chúa thì phải lắm, vì đúng thật Thầy như vậy. Vậy nếu Ta là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng phải rửa chân cho nhau. Vì Thầy đã làm gương cho các con để các con cũng bắt chước mà làm như Thầy đã làm cho các con”.

Đó là lời Chúa.

RỬA CHÂN

5- Bài giảng sẽ đề cập đến các mầu nhiệm được tưởng niệm trong thánh lễ này, tức là việc thiết lập bí tích Thánh Thể, chức tư tế và điều răn của Chúa về tình bác ái huynh đệ. Sau bài giảng, sẽ cử hành nghi thức rửa chân, nếu lý do mục vụ khuyên nên làm.

6- Các người giúp lễ sẽ hướng dẫn những người đàn ông đã được tuyển trọn đến ghế dọn sẵn. Sau đó linh mục (cởi áo lễ nếu cần), với các người giúp lễ, đi đến từng người, đổ nước trên chân họ và lau.

7- Trong khi đó, hát một bài ca được ghi sau đây, hoặc những thánh ca thích hợp.

Điệp ca 1 x. Ga 13, 4.5.15

Chúa Giêsu trỗi dậy, rời bàn ăn
Đổ nước vào chậu
Rồi bắt đầu rửa chân cho các môn đệ Người
Để làm gương cho họ noi theo.

Điệp ca 2 x. Ga 13, 6.7.8

Đ. Lạy Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?
Chúa Giêsu đáp: “Nếu Thầy không rửa chân cho con,
Con sẽ chẳng được chung phần với Thầy”.

X. Chúa đến chỗ Simon Phêrô,
Ông liền thưa Người rằng:

Đ. Lạy Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?
Việc Thầy làm bây giờ con chưa hiểu,
Nhưng sau này sẽ hiểu.

Đ. Lạy Chúa, Chúa mà lại rửa chân cho con sao?

Điệp ca 3 x. Ga 13,14

Chúa nói: “Nếu Thầy là Chúa và là Thầy,
còn rửa chân cho anh em
Anh em lại càng phải rửa chân cho nhau”.

Điệp ca x. Ga 13, 35

Đ. Mọi người sẽ nhận biết
anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này:
Là anh em có lòng yêu thương nhau.

X. Chúa Giêsu nói cùng các môn đệ
Đ. Mọi người…

Điệp ca 5 x. Ga 13, 34

Chúa nói:
“Thầy ban cho anh em một điều răn mới
là anh em hãy yêu thương nhau,
như Thầy đã yêu thương anh em.”

Điệp ca 6 1Cr 13, 13

Đ. Anh em hãy luôn luôn có đức tin, đức cậy, đức mến.
Trong ba đức này, đức mến trọng hơn.

X. Hiện bây giờ tin, cậy, mến, cả ba vẫn còn, nhưng đức mến mới là trọng nhất.
Đ. Anh em hãy…

8- Sau khi rửa chân, hoặc nếu không rửa chân thì sau bài giảng, sẽ đọc lời nguyện giáo dân. Trong thánh lễ này không đọc Kinh Tin Kính.

PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

9- Bắt đầu phụng vụ Thánh Thể, có thể cho giáo dân lên dâng của lễ dành cho người nghèo.

Trong lúc đó, hát bài thánh ca sau đây, hoặc bài khác thích hợp.

Điệp ca

Đâu có tình yêu thương đích thực,
Thì ở đấy có Đức Chúa Trời.
Tình yêu Đức Kitô làm cho ta hiệp nhất,
Nào anh em một nhà, hãy vui mừng hoan lạc.
Đem tấc dạ kính yêu dâng Chúa Trời hằng sống
Mối chân tình cao rộng ta trao gửi cho nhau.
Khi cùng nhau kết đoàn làm nên một thân thể
Lo sao đừng chia rẽ sống hòa thuận bình an.
Đừng tranh chấp kêu ca, chớ nặng lời cãi cọ.
Nguyện Kitô Đức Chúa hằng ngự giữa chúng ta.
Cúi xin Đức Kitô cho đoàn con hưởng kiến
Giữa triều thần vinh hiển trên cõi phúc thiên thu.
Hoan lạc chẳng phôi pha, nỗi vui mừng chan chứa
Ôi hạnh phúc bao la đến muôn đời muôn thuở.

10- Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin thương giúp cộng đoàn tín hữu chúng con, cử hành thánh lễ này cho xứng đáng. Vì mỗi khi chúng con dâng lễ tưởng niệm cuộc khổ hình của Đức Kitô, là chúng con được hưởng ơn cứu chuộc của Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

11- Lời tiền tụng Thánh Thể I

Lạy Cha chí thánh là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con, nhờ Đức Kitô Chúa chúng con.

Chính Người là Linh Mục đích thực và vĩnh cửu, đã thiết lập hy lễ trường tồn. Người là Đấng đầu tiên đã tự hiến mình cho Cha làm của lễ cứu độ, và truyền cho chúng con cũng dâng tiến để tưởng nhớ đến Người. Khi chúng con lãnh nhận Mình Người hiến tế vì nhân loại, chúng con được mạnh sức. Và khi chúng con uống Máu Người đổ ra vì nhân loại, chúng con được rửa sạch tội khiên.

Vì thế, cùng với toàn thể thiên thần và các thánh, chúng con không ngừng hát bài ca chúc tụng Cha vinh hiển và tung hô rằng:

Thánh ! Thánh ! Chí Thánh !

12- Ca hiệp lễ 1Cr 11, 24-25

Chúa nói:
“Đây chính là Mình Thầy hiến tế vì anh em.
Đây là chén Máu Thầy, Máu của giao ước mới,
Mỗi khi ăn và uống, anh em hãy làm việc này
Để tuởng nhớ đến Thầy.

13- Cho rước lễ xong, chủ tế đặt trên bàn thờ bình đựng Mình Thánh để cho rước lễ hôm sau và kết thúc thánh lễ bằng lời nguyện hiệp lễ.

14- Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, chiều nay chúng con đã được bổ sức tại bàn tiệc của Đức Kitô, mai ngày, xin Chúa cũng đón nhận chúng con vào dự tiệc muôn đời trong Nước Chúa. Chúng con cầu xin…

KIỆU MÌNH THÁNH CHÚA SANG BÀN THỜ PHỤ

15. Đọc lời nguyện xong, chủ tế đứng trước bàn thờ, bỏ hương rồi quỳ gối xông hương ba lần lên Mình Thánh Chúa, đoạn nhận khăn choàng vai, dùng hai đầu khăn choàng phủ bình đựng Mình Thánh, và cầm bình lên.

16. Cuộc rước kiệu tiến hành như sau: đi đầu là người cầm thánh giá, tiếp đến là linh mục mang Mình Thánh Chúa, cùng với các người cầm đèn nến, bình hương, kiệu dọc nhà thờ đến bàn thờ phụ đã được trang hoàng xứng đáng. Trong khi đó, hát thánh thi “Nào Ca Hát” hoặc một bài ca nào khác kính Mình Thánh.
Nào Ca Hát
Nào ca hát để họp mừng mầu nhiệm
Vua muôn dân đã đem trót thân mình
Cùng máu đào làm lễ tế hy sinh
Nên giá chuộc muôn người trên thế giới.
Người tự hiến cho ta nên chẳng ngại
Sinh làm con Đức Trinh Nữ vẹn toàn,
Trót cuộc đời gieo chân lý Phúc âm
Và kết thúc bằng điềm thiêng kỳ diệu
Đêm dự bữa Tiệc Ly cùng bạn hữu
Khi đã dùng thực phẩm luật truyền xưa.
Người trao tay cho tất cả tông đồ
Mình Máu Thánh làm thần lương mỹ vị.
Câu tuyên phán của Ngôi Lời nhập thể
Đã làm cho bánh thật nên Mình Người,
Rượu nho thành bao giọt máu hồng tươi,
Mắt chẳng thấy nhưng lòng tin vững mạnh.

17-Khi đến nơi, linh mục đặt bình đựng Mình Thánh Chúa lên bàn thờ, bỏ hương rồi quỳ gối xông hương, trong lúc đó hát “Ôi Bí Tích”. Cuối cùng, đóng cửa nhà tạm.

Ôi Bí Tích
Ôi Bí Tích thật cao vời khôn sánh,
Ta bái thờ Chúa đang ngự nơi đây,
Nghi lễ xưa đâu sánh bí tích này,
Niềm tin thế cho giác quan cảm nghiệm.
Lòng hớn hở, cùng tán dương trìu mến
Cha uy quyền và Con Một từ nhân,
Cùng tôn vinh ca ngợi Chúa Thánh Thần,
Xin chúc tụng Ba Ngôi ngàn muôn thuở.

18- Sau khi thinh lặng thờ lạy trong giây lát, linh mục và các người giúp lễ bái gối, trở vào phòng thánh.

19- Sau đó, lột khăn bàn thờ, và nếu có thể, cất các thánh giá. Nếu còn thánh giá nào, phải phủ khăn.

20. Ai tham dự thánh lễ chiều, không phải đọc giờ Kinh Chiều.

20- Khuyên giáo dân, nên tùy hoàn cảnh đến chầu Mình Thánh Chúa ban đêm vào giờ thuận tiện; nhưng nửa đêm trở đi, không được tổ chức chầu Mình Thánh Chúa trọng thể.

GIỜ THÁNH THỨ NĂM TUẦN THÁNH
“Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy,
hiến tế vì anh em” (1Cr 11,24)

I. KHAI MẠC

1. Hát kính Thánh Thể.

2. Lời nguyện mở đầu của chủ sự hay người hướng dẫn:

“Anh em hãy cầm lấy mà ăn, này là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” (1Cr 11,24)

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Lời Chúa mà chúng con vừa nghe, đưa chúng con vào Mầu nhiệm Hiến tế của Chúa, Mầu nhiệm mà Hội Thánh cử hành trong những ngày thánh này. Chúa muốn trao gửi cho các tông đồ và chúng con chính bản thân của Chúa. Chúa muốn chia sẻ sự sống của Chúa cho chúng con và mời gọi chúng con biết chia sẻ chính mình mỗi khi cử hành Mầu nhiệm Thánh Thể.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, chúng con tin thật Chúa đang hiện diện khiêm tốn và đích thực trong dấu chỉ tấm bánh. Chúng con thờ lạy và ngợi khen Chúa, chúng con chúc tụng, tri ân cảm tạ và yêu mến Chúa. Xin Chúa quy tụ chúng con lại bên Chúa, như Chúa đã quy tụ các tông đồ trong bữa Tiệc Ly. Xin ban cho chúng con Thánh Thần để soi lòng mở trí chúng con biết lắng nghe, yêu mến và đón nhận Lời Chúa trong giờ cầu nguyện này cũng như trong đời sống thường ngày.

Đêm nay, tưởng nhớ việc Chúa thiết lập Bí tích Thánh Thể và chức linh mục thừa tác, chúng con muốn đến với Chúa trong tâm tình ngưỡng mộ, chúc tụng tôn vinh và cảm tạ tri ân. Nguyện xin Chúa tuôn đổ sức sống mới cho tất cả các thành phần dân Chúa, đặc biệt cho hàng linh mục là những thừa tác viên của Mầu nhiệm Thánh Thể và của Lời Chúa, để trong năm nay, năm mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chọn chủ đề về Giáo Dục Gia đình, chúng con biết chiêm ngắm Chúa chính là vị Thầy đích thực dạy chúng con về sự chia sẻ, sống quảng đại, hy sinh quên mình để mưu ích cho tha nhân.

Xin “mở mắt đức tin” cho chúng con để chúng con nhận ra Chúa đang đồng hành với chúng con trên mọi nẻo đường của cuộc đời, như Chúa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmau vào buổi chiều Phục Sinh và giải thích Kinh Thánh cho họ. Xin làm cho trái tim chúng con bừng cháy lên như cảm nghiệm bừng cháy của hai môn đệ làng Emmau (x. Lc 24,32). Nhờ Mầu nhiệm Thánh Thể và sức mạnh thánh hóa của Lời Chúa, xin Chúa đào tạo và huấn luyện chúng con thành những tín hữu biết sống tình tương thân tương ái, đùm bọc lẫn nhau và nhiệt tâm cầu nguyện. Amen.

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA, SUY NIỆM VÀ CẦU NGUYỆN

3. Lời dẫn trước khi đọc Lời Chúa:

Trong bầu khí thánh thiện của đêm nay, Chúa quy tụ chúng ta ở lại bên Chúa như các môn đệ tại bàn Tiệc Ly. Đêm nay, chúng ta cùng canh thức với Chúa, lắng nghe và đáp trả tình yêu Chúa. Xin cho giờ cầu nguyện, tôn thờ, chúc tụng, cảm tạ và chiêm ngưỡng Thánh Thể trong đêm thánh này được ánh sáng Lời Chúa toả chiếu. Xin Chúa Thánh Thần ngự đến mở trí soi lòng, chiếu dọi vào tâm hồn chúng ta khuôn mặt và giáo huấn của Đức Giêsu, Đấng đã chết và phục sinh vì chúng ta và đưa chúng ta tới sự thật trọn vẹn.

4. Hát: “Lắng nghe Lời Chúa”

5. Bài đọc I: 1Cr 11,23-27

“Thật vậy, điều tôi đã lãnh nhận từ nơi Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: “Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước Mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa”

6. Suy niệm và cầu nguyện (1):

Nam: Suy niệm

Các kitô hữu thời kỳ đầu cử hành Thánh Thể trong một bữa ăn chiều, tại các tư gia. Họ chia sẻ của ăn của uống cho nhau, rồi sau đó lập lại nghi thức Chúa Giêsu đã làm trong bữa Tiệc Ly để tưởng nhớ đến Ngài. Tiệc huynh đệ agapé đi trước, sau đó mới cử hành Thánh Thể.

Việc này không phải lúc nào cũng tốt đẹp. Những người khá giả hơn thì đến sớm, chọn chỗ tốt hơn và chỉ biết ăn uống; và như thế là không còn bầu khí chia sẻ huynh đệ, một điều cần thiết cho cử hành Thánh Thể.

Thánh Phaolô nhắc lại cho các tin hữu Côrintô tầm quan trọng của việc cử hành bữa tôi của Chúa. Và đây là dịp để ngài xen vào trong lá thư của ngài trình thuật về việc lập Bí tích Thánh Thể, trình thuật mà ngài đã nhận được từ truyền thống, vì chính ngài đã không có mặt lúc đó.

Trong trình thuật này, trình thuật mà chúng ta vừa nghe, thánh Phaolô nhắc lại cho các tín hữu Côrintô về việc Chúa Giêsu thiết lập Bí tích Thánh Thể như báo trước cái chết cứu chuộc và sự phục sinh của Ngài.

Điều mà thánh Phaolô nhấn mạnh ở đây là Tiệc Thánh Thể liên kết với cái chết của Chúa Giêsu, cái chết đem lại ơn cứu độ. Trong đêm bị nộp, trước hết Chúa Giêsu đã thực hiện hành vi bẻ bánh. Tất cả các bản văn tường thuật việc thiết lập Thánh Thể đều nhấn mạnh đến hành vi này, đến nỗi sau này, người ta đã gọi Tiệc Thánh là “Lễ bẻ bánh”. Tại sao Chúa Giêsu lại bẻ bánh? Có phải chỉ để trao cho mỗi môn đệ một phần chăng? Không phải thế! Hành vi này không những biểu thị một sự chia sẻ mà còn biểu thị ý nghĩa sát tế nữa. Bánh là chính Thân Mình Chúa Giêsu. Qua việc “bẻ bánh”, Chúa Giêsu đã bẻ chính Mình Ngài, theo ý nghĩa lời ngôn sứ Isaia đã tiên báo về người tôi tớ Thiên Chúa: Người phải tan nát vì tội lỗi chúng ta (x. Is 53,5).

Thánh Phaolô hiểu cái chết của Chúa là một hiến tế vì nhân loại và sự hiến tế này có giá trị cứu chuộc. Thịt máu biểu thị toàn thể con người. Chén nhắc nhở giao ước mới mà tiên tri Giêrêmia đã loan báo: “Này sẽ đến ngày – sấm ngôn của Đức Chúa – Ta sẽ lập với nhà Israel và nhà Giuđa một giao ước mới… Đây là giao ước Ta sẽ lập với Israel – sấm ngôn của Đức Chúa. Ta sẽ ghi khắc vào dạ chúng, sẽ khắc vào tâm khảm chúng lề luật của Ta… Ta sẽ là Thiên Chúa của chúng và chúng sẽ là dân của Ta” (Gr 31,31.33).

Đối với người kitô hữu, giao ước mới này đã được đóng ấn bằng máu Chúa Giêsu đổ ra. Nó bao hàm sự tôn trọng những đòi hỏi của Tin mừng, bắt đầu bằng đòi hỏi của tình yêu huynh đệ. Vì vậy, chúng ta không thể đến với Thánh Thể mà trong lòng còn chất chứa hận thù, ngay cả chuyện thờ ơ với những người xấu số cũng không được.

Quên lãng người nghèo khó khổ đau trong cử hành Thánh Thể là quên lãng Đức Kitô, Đấng đã trở nên nghèo khó và đau khổ. Và như thế là hoàn toàn không xứng hợp. Chính điều này đã khiến cho thánh Phaolô phải viết: “Bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa”.

Cử hành Thánh Thể để “chia sẻ Thánh Thể”. Cách nói này nhắc nhở một trật những điều này: Chúa Giêsu đã chia sẻ sự sống của mình với con người, cho tới chỗ chấp nhận một cái chết bất công; bánh thánh được chia sẻ giữa các tín hữu trong cử hành; bất cứ đời sống nào được Tin mừng nuôi dưỡng đều là một đời sống chia sẻ. Đây là một trong những lý do khiến cho Thánh Thể còn được gọi là “trọng tâm và tột đỉnh của đời sống Giáo Hội”, vì chia sẻ là một trong những thái độ Tin mừng cơ bản nhất. Trong Thông điệp Giáo Hội từ Thánh Thể, Đức Gioan Phaolô II viết: “Hồng ân Chúa Kitô và Thánh Thần của Ngài mà chúng ta lãnh nhận khi rước lễ hoàn tất cách sung mãn tuyệt vời những ước muốn hiệp nhất huynh đệ đang ngự trị trong tâm hồn con người, đồng thời nâng cao kinh nghiệm về tình huynh đệ gắn liền với việc tham dự chung vào cùng một bàn tiệc Thánh Thể, đến một mức độ vượt trên mức độ của một kinh nghiệm thuần túy đồng bàn của con người” (số 24).

Nữ: Cầu nguyện

Lạy Chúa Giêsu, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa đã trao ban cho Hội Thánh một hồng ân vô giá là Bí tích Thánh Thể, trong đó Chúa trao ban Thân Mình cho chúng con. Chúng con nhớ rằng thân thể Chúa là thân thể của Đấng đã bị đóng đinh, mà cũng là Thân Thể Giáo Hội có sứ mệnh hiến ban mình cho thế gian được sống. Hai thân thể đó qui hướng về nhau. Chúa mời gọi chúng con coi Thánh Thể là trọng tâm của đời sống, liên kết chúng con với tặng phẩm là cả con người của Chúa.

Đ/ Xin tình yêu Chúa biến đổi chúng con.

X/ Xin đừng để cho những cử hành phụng vụ của chúng con trở thành tầm thường, nhạt nhẽo vô hồn.

Đ/ Xin tình yêu Chúa biến đổi chúng con.

X/ Xin cho chúng con biết quý trọng ân sủng Chúa ban là được cử hành Thánh Thể. Xin cho chúng con biết tham dự hết mình, biết lắng nghe lời Chúa, biết chia sẻ tấm bánh được trao ban.

Đ/ Xin tình yêu Chúa biến đổi chúng con.

X/ Xin giúp chúng con khi tham dự Thánh Thể biết chia sẻ với mọi người, không quên lãng một ai. Xin cho chúng con được thấm nhuần hành động hiến tế của Chúa ngõ hầu thế gian được sống.

Đ/ Xin tình yêu Chúa biến đổi chúng con.

Thinh lặng. (Đêm nay, cần nhiều giây phút thinh lặng đễ chiêm ngắm Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn)

7. Chúc tụng và tung hô:

Người hướng dẫn: Giờ đây, chúng ta cùng chúc tụng tung hô Chúa:

X/ Chúc tụng Chúa đã hết tình yêu thương nhân loại.

Đ/ Đó là niềm hy vọng cho chúng con

X/ Chúc tụng Chúa đã hiến tế Thân Mình vì chúng con để chúng con được sống

Đ/ Đó là sức mạnh và nguồn sống của chúng con

X/ Chúc tụng Chúa đã ban Lời hằng sống cho chúng con

Đ/ Đó là nguồn ánh sáng của chúng con

X/ Chúc tụng Chúa đã thanh tẩy chúng con bằng thập giá của Chúa

Đ/ Đó là nguồn ơn cứu độ chúng con

X/ Chúc tụng Chúa là sự sống và là sự sống lại của chúng con

Đ/ Đó là nguồn vui và hạnh phúc của chúng con

8. Hát về Thánh Thể hay về Tình yêu Chúa.

9. Bài đọc 2: Ga 15,1-13

“Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi; còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa cho nó sinh nhiều hoa trái hơn. Anh em được thanh sạch rồi nhờ lời Thầy đã nói với anh em. Hãy ở lại trong Thầy như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho, anh em cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy.

Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được. Ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo. Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi. Nếu anh em ở lại trong Thầy và lời Thầy ở lại trong anh em, thì muốn gì, anh em cứ xin, anh em sẽ được như ý. Điều làm Chúa Cha được tôn vinh là: Anh em sinh nhiều hoa trái và trở thành môn đệ của Thầy.

Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy. Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người. Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình”

10. Suy niệm và cầu nguyện (2):

Nam: Suy niệm

Cây nho là hình ảnh truyền thống của Thánh Kinh. Chúa Giêsu dùng hình ảnh cây nho, cành nho và người trồng nho để nói đến một tương quan liên vị: Ngài là cây nho đích thật, các môn đệ của Ngài là những cành nho và Chúa Cha là người trồng nho.

Người trồng nho có nỗi nhọc nhằn và có cả niềm vui. Niềm vui của người trồng nho là thấy được những nhánh nho sai trái và ngọt ngào. Nỗi nhọc nhằn của người trồng nho là chăm sóc, cắt tỉa các nhánh nho.

Nhánh nho có quả ngọt và sai trái cũng như có thể có nguy cơ bị héo khô, cằn cỗi. Những nhánh nho có quả ngọt và sai trái là những nhánh nhận được nhựa sống từ thân nho.

Từ hình ảnh này, Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ hãy gắn bó mật thiết với Ngài, hãy ở lại trong tình thương của Ngài. Tình thương của Chúa ví như nhựa sống của thân nho. Ở lại trong Chúa Giêsu làm cho đời người môn đệ sinh hoa kết trái. Ở lại trong Chúa Giêsu làm vui lòng Chúa Cha.

Với lời mời gọi hãy ở lại trong tình thương của Chúa, ta gặp thấy một khao khát của Chúa. Chúa Giêsu khao khát chúng ta khao khát Ngài. Chúa chờ đợi chúng ta yêu mến Ngài. Chúa muốn chúng ta làm bạn với Ngài.

Một khi chúng ta trở nên bạn hữu của Chúa thì đó là lúc Chúa trao ban cho chúng ta giới răn yêu thương. Tình thương và sự chia sẻ trong cuộc đời người môn đệ là hoa trái nhận được từ tình bạn với Chúa.

Nữ: cầu nguyện

Giờ đây, chúng ta cùng hiệp lời cầu nguyện cho các gia đình:

X/ Lạy Chúa, xin cho các gia đình biết gắn bó với Chúa như cành nho gắn liền với thân nho– để sinh hoa kết trái là các việc lành phúc đức.

Đ/ Lạy Chúa, xin Chúa ở lại với chúng con.

X/ Chúa đã hằng thảo kính cha mẹ và được cha mẹ mến yêu – Xin cho các gia đình chúng con được êm ấm thuận hòa, thấm nhuần tình tương thân tương ái

X/ Từ nguyên thủy, Chúa dựng nên loài người có nam có nữ – xin cho những ai sống trong bậc vợ chồng được trọn đời chung thủy với nhau.

X/ Chúa đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hy sinh mạng sống cho muôn người – xin dạy chúng con biết quên mình phục vụ anh chị em và lưu tâm đến người đau khổ khó nghèo.

X/ Còn những gia đình đang gặp thử thách – xin cho họ được nâng đỡ nhờ tình thương của Chúa.

11. Cầu nguyện bằng một bài hát thích hợp…

12. Lời cầu nguyện của chủ sự hay người hướng dẫn.

Lạy Chúa Giêsu, trong bài ca thứ tư về người tôi tớ Giavê (Is 53,3-5), ngôn sứ Isaia đã phác họa hình ảnh về người tôi tớ mà cả cuộc đời là sống cho người khác và vì người khác, sống cho tình yêu và chết cho tình yêu:

“Người bị đời khinh khi ruồng rẫy,
phải đau khổ triền miên và nếm mùi bệnh tật.
Người như kẻ ai thấy cũng che mặt không nhìn,
bị chúng ta khinh khi, không đếm xỉa tới.
Sự thật, chính người đã mang lấy
những bệnh tật của chúng ta,
đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta,
còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt,
bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề.
Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội,
bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm;
người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an,
đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành” (Is 53,3-5).

Xin Chúa cho chúng con biết chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa và khắc ghi vào lòng lời của Chúa: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Trong mỗi gia đình chúng con, xin dạy chúng con biết yêu thương nhau bằng trái tim của Chúa, biết tha thứ cho nhau với tấm lòng của Chúa, biết quan tâm đến nhau với ánh nhìn của Chúa, để các gia đình chúng con làm trổ sinh nhiều hoa trái thánh thiện và tỏa lan ra đến hết mọi người.

Lạy Chúa Giêsu, chúng con tạ ơn Chúa đã ban Thánh Thần để nhắc nhớ và dẫn chúng con vào sự thật toàn vẹn. Xin Chúa huấn luyện chúng con mỗi ngày để chúng con biết sống trọn vẹn lễ nghĩa gia phong, sống đùm bọc lẫn nhau trong tình thương thân tương ái. Amen.

13. Hát: “Xin Chúa dạy con”

III. KẾT THÚC

Lời nguyện kết thúc của chủ sự hay người hướng dẫn:

Lạy Cha, chúng con dâng lên Cha tâm tình cảm tạ tri ân. Cha đã ban cho nhân loại Con Một Cha là Đấng Cứu Độ Trần gian. Ngài đã trao ban Thịt Máu mình làm lương thực thiêng liêng để chúng con được sống sự sống của Cha. Xin Cha ban cho chúng con một trái tim khao khát, khao khát đến với Con Một Cha để được ở lại trong tình thương của Ngài. Amen.

NGHI THỨC THỨ SÁU TUẦN THÁNH
TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA
Ý NGHĨA

Ngày thứ Sáu Tuần Thánh, các Kitô hữu trên hoàn cầu đều ăn chay: đây là ngày chay Vượt Qua kỷ niệm Chúa đã chịu Thương Khó, và Giáo hội khuyên chúng ta tiếp tục giữ cho tới đêm thánh.

Vào buổi chiều hoặc tối hôm nay, có nghi lễ về cuộc Thương Khó của Chúa. Bắt đầu là phụng vụ lời Chúa, với bài Thương Khó theo thánh Gioan. Sau bài diễn giảng là những lời cầu đặc biệt long trọng cho toàn thể Giáo hội và thế giới, cho hết mọi hạng người, vì ơn cứu độ do Đấng Cứu Thế đã đổ máu ra để thực hiện, cần phải đạt tới khắp nơi trên mặt đất. Sau đó linh mục đưa thánh giá ra cho cộng đoàn tôn kính, rồi mọi người thông hiệp với Mình Thánh Chúa Kitô.

Trong buổi họp mừng này, điều nổi bật hơn cả không phải là các đau khổ nhục nhằn của cuộc Thương Khó, nhưng là vinh quang của thánh giá, vì mỗi lần Giáo hội tưởng niệm Chúa đã chịu chết thì đồng thời cũng tuyên xưng Người đã Phục Sinh. Vì thế, các bài ca hôm nay đầy những lời tung hô Chúa Kitô hiển thắng: “Lạy Thiên Chúa chí thánh ! Lạy Thiên Chúa oai hùng ! Lạy Thiên Chúa muôn đời hằng hữu ! Xin thương xót chúng con” (Dân Ta hỡi). “Lạy Chúa, chúng con tôn thờ thánh giá Chúa, hát mừng Ngài sống lại hiển vinh; ấy chính vì bởi cây thập giá, niềm hân hoan tràn ngập địa cầu” (điệp ca).

NHỮNG ĐỒ CẦN CHUẨN BỊ

1. Trên bàn thờ chính:
- Không thánh giá, không khăn bàn thờ, không đèn.
- Chân để đặt thánh giá.
- Dưới cấp bàn thờ, đặt gối nếu chủ sự sẽ phủ phục.

2. Trên bàn nhỏ cạnh bàn thờ chính:
- Khăn trải bàn thờ.
- Giá sách với tập “Nghi Thức Tuần Thánh”.
- Khăn thánh.
- Nước tráng chén và rửa tay.
- Giây các phép cho các linh mục và phó tế mang khi cho rước lễ.

3. Trong cung thánh:
- Giá sách với bài tường thuật “Cuộc Thương Khó”.

4. Trên bàn thờ đang có Mình Thánh:
- Khăn thánh, khăn choàng vai, đèn

5. Trong phòng thánh:
- Lễ phục cho chủ sự, phó tế và các phụ tế (mầu đỏ).
- Thánh giá sẽ dùng khi thờ lạy.
- Đèn dùng khi kiệu thánh giá.

CỬ HÀNH CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

1- Theo truyền thống rất xa xưa, hôm nay và ngày mai Hội thánh không cử hành bí tích nào hết.
2- Bàn thờ hoàn toàn để trống: không thánh giá, không chân đèn, không trải khăn.
3- Khoảng 3 giờ chiều, cử hành cuộc Thương Khó của Chúa, trừ khi lý do mục vụ khuyên nên làm muộn hơn. Nghi thức này gồm ba phần: Phụng vụ Lời Chúa, Kính thờ Thánh Giá, và Rước Lễ.

Hôm nay chỉ cho giáo dân rước lễ trong nghi thức tưởng niệm cuộc Thương Khó của Chúa mà thôi; tuy nhiên vào bất cứ giờ nào trong ngày, cũng có thể đem Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân nào không thể tham dự nghi thức.

4- Linh mục và phó tế, mặc lễ phục đỏ như khi cử hành thánh lễ, tiến ra bàn thờ, cúi chào rồi phủ phục xuống đất hoặc quỳ gối, và tất cả mọi người thinh lặng cầu nguyện trong giây lát.

5- Linh mục và các người giúp lễ đến ghế, quay về phía giáo dân, linh mục dang tay đọc một trong hai lời nguyện sau đây:

Lời Nguyện (không đọc “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”)

Lạy Chúa, vì yêu thương chúng con vô ngần, Chúa đã vui lòng cho Con Một Chúa đổ máu đào trên thập giá, để hoàn thành mầu nhiệm Vượt Qua, đem lại ơn cứu độ cho loài người. Giờ đây, xin Chúa nhớ lại tình thương ấy mà thánh hóa và che chở đoàn con luôn mãi. Chúng con cầu xin…

Hoặc
Lạy Chúa, từ lòng mẹ, chúng con đã phải mang án chết do tội Ađam truyền lại, nhưng nhờ mầu nhiệm Con Chúa chịu khổ hình, Chúa đã tiêu diệt sự chết. Vậy giờ đây, xin Chúa ban ơn thánh hóa biến đổi chúng con nên giống hình ảnh Ađam mới là Đức Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

PHẦN THỨ NHẤT
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

6- Mọi người ngồi xuống, nghe đọc bài thứ nhất, trích sách Isaia, rồi hát đáp ca.

BÀI ĐỌC I Is 52,13-53,12

Bài ca thứ tư về người tôi tớ Chúa, nói người tôi tớ bị sỉ nhục, hành hạ và sau cùng bị giết, mà vẫn hiền lành như con chiên, không mở miệng kêu ca. Người tôi tớ chịu như vậy, là vì đền tội thay cho kẻ khác, và mang lấy hình phạt kẻ khác đáng chịu. Chính vì thế mà người tôi tớ Chúa làm cho muôn người nên công chính, và đem lại cho họ phúc bình an. Các tác giả Tân ước thấy rằng: những lời sách Isaia đây đã thực hiện nơi Chúa Giêsu và giúp ta hiểu hơn ý nghĩa và hiệu lực của cái chết của Chúa Giêsu, đem lại ơn cứu chuộc cho ta.

“Người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Này tôi tớ Ta sẽ được cao minh, sẽ vinh thăng tấn phát, cao cả tuyệt vời. Cũng như nhiều người đã kinh ngạc, vì thấy người tàn tạ mất hết vẻ người, dung nhan người cũng không còn nữa, cũng thế, muôn dân sẽ sửng sốt, các vua không còn biết nói chi trước mặt người. Vì họ sẽ thấy việc chưa ai kể cho mình, sẽ biết điều mình chưa hề được nghe.

Ai mà tin được điều chúng ta nghe? Và Chúa đã tỏ ra sức mạnh cho ai? Người sẽ lớn lên trước mặt Ngài như một chồi non, như một rễ cây, tự đất khô khan. Người chẳng còn hình dáng, cũng chẳng còn sắc đẹp để chúng ta nhìn ngắm, không còn vẻ bên ngoài, để chúng ta yêu thích; bị người đời khinh dể như kẻ thấp hèn nhất, như kẻ đớn đau nhất, như kẻ bệnh hoạn, như một người bị che mặt và bị khinh dể, bởi đó, chúng ta không kể chi đến người.

Thật sự, người đã mang lấy sự đau yếu của chúng ta, người đã gánh lấy sự đau khổ của chúng ta. Mà chúng ta lại coi người như kẻ phong cùi, bị Thiên Chúa đánh phạt và làm cho nhuốc hổ. Nhưng người đã bị thương tích vì tội lỗi chúng ta, bị tan nát vì sự gian ác chúng ta. Người lãnh lấy hình phạt cho chúng ta được bình an, và bởi thương tích người mà chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lang thang như chiên cừu, mỗi người một ngả. Chúa đã chất trên người tội ác của tất cả chúng ta.

Người hiến thân vì người tình nguyện và không mở miệng như con chiên bị đem đi giết, và như chiên non trước mặt người xén lông, người thinh lặng chẳng hé môi. Do cưỡng bách và án lệnh, người đã bị tiêu diệt; ai sẽ còn kể đến dòng dõi người nữa, bởi vì người đã bị khai trừ khỏi đất người sống; vì tội lỗi dân Ta, Ta đánh phạt người. Người ta định đặt mồ người giữa những kẻ gian ác, nhưng khi chết, người được chôn giữa kẻ giàu sang, mặc dầu người đã không làm chi bất chánh, và miệng người không nói lời gian dối. Chúa đã muốn hành hạ người trong đau khổ.

Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ thấy một dòng dõi trường tồn, và nhờ người, ý định Chúa sẽ thành tựu. Nhờ nỗi khổ tâm của người, người sẽ thấy và sẽ được thoả mãn. Nhờ sự thông biết, tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy những tội ác của họ. Bởi đó, Ta trao phó nhiều dân cho người, người sẽ chia chiến lợi phẩm với người hùng mạnh. Bởi vì người đã hiến thân chịu chết và đã bị liệt vào hàng phạm nhân, người đã mang lấy tội của nhiều người, và đã cầu bầu cho các phạm nhân.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 30, 2 và 6. 12-13. 15-16. 17 và 25

Đáp: Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha.

1) Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con muôn đời tủi hổ, vì đức công minh Ngài, xin cứu chữa con! Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa, lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con. – Đáp.

2) Con trở nên đồ ô nhục đối với những người thù, nên trò cười cho khách lân bang, và mối lo sợ cho người quen biết; gặp con ngoài đường, họ tránh xa con. Con bị người ta quên, không để ý tới, dường như đã chết, con đã trở nên như cái bình bị vỡ tan. – Đáp.

3) Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài, con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại. – Đáp.

4) Xin cho tôi tớ Chúa được thấy long nhan dịu hiền, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa. Lòng chư vị hãy can trường mạnh bạo, hết thảy chư vị là người cậy trông ở Chúa. – Đáp.

7- Tiếp theo là bài đọc thứ hai trích thư gửi tín hữu Do Thái, và hát tung hô Tin Mừng.

BÀI ĐỌC II Dt 4, 14-16; 5, 7-9

Đức Giêsu cũng là người như chúng ta. Vì thế, trước đau khổ và cái chết Người cũng cảm thấy khắc khoải, mặc dầu bị xâu xé trong tâm hồn và thể xác, Người đã vâng phục chấp nhận thánh ý Chúa Cha. Vì thế, Người vừa là tư tế vừa là lễ vật hy sinh đem lại ơn cứu độ cho mọi người.

“Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu,
và khi hoàn tất, Người đã trở nên
căn nguyên ơn cứu độ đời đời”.

Bài trích thư gởi tín hữu Do-thái.

Anh em thân mến, chúng ta có một thượng tế cao cả đã đi qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, nên chúng ta hãy giữ vững việc tuyên xưng đức tin của chúng ta. Vì chưng, không phải chúng ta có thượng tế không thể cảm thông sự yếu đuối của chúng ta, trái lại, Người đã từng chịu thử thách bằng mọi cách như chúng ta, ngoại trừ tội lỗi.

Khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Đấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành kính, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người.

Đó là lời Chúa.

CÂU XƯỚNG TRƯỚC PHÚC ÂM: Pl 2, 8-9

Chúa Kitô vì chúng ta đã vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá. Vì thế, Thiên Chúa đã tôn vinh Người, và ban cho Người một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu.

8- Rồi đọc bài Thương Khó theo thánh Gioan, cũng theo cách thức như Chúa Nhật Lễ Lá

BÀI THƯƠNG KHÓ Ga 18, 1 – 19, 42

Bài Thương Khó theo thánh Gioan mô tả việc Đức Giêsu đi từ trần gian này đến với Chúa Cha, và những lợi ích thiêng liêng phát xuất từ đó. Đức Giêsu chính là Con Chiên Vượt Qua bị sát tế, để nhờ Máu Chiên đó mà dân được cứu. Thánh Gioan không nhấn mạnh đến những đau khổ, sỉ nhục Đức Giêsu chịu, nhưng nhấn mạnh đến tính cách hoàn toàn tự nguyện của Người. Người biết mình đi đến cái chết, và Người tự ý hoàn toàn tất cả những gì Chúa Cha muốn. Giờ Đức Giêsu chịu treo cao trên thập giá, chính là giờ Người đánh bại Satan, Người được tôn vinh và lôi kéo mọi người lên với Người. Khi trút hơi thở, Người trao thần khí lại cho Hội thánh. Từ cạnh sườn Người máu và nước chảy ra, tượng trưng cho hai bí tích Thánh Tẩy và Thánh Thể thành lập Hội thánh.

“Sự Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta”.

C. Bài Thương Khó Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu đi với môn đệ sang qua suối Xêrông, ở đó có một khu vườn, Người vào đó cùng với các môn đệ. Giuđa, tên phản bội, đã biết rõ nơi đó, vì Chúa Giêsu thường đến đấy với các môn đệ. Nên Giuđa dẫn tới một toán quân cùng với vệ binh do các thượng tế và biệt phái cấp cho, nó đến đấy với đèn đuốc và khí giới. Chúa Giêsu đã biết mọi sự sẽ xảy đến cho Mình, nên Người tiến ra và hỏi chúng: ? “Các ngươi tìm ai?”
C. Chúng thưa lại: S. “Giêsu Nadarét”. C. Chúa Giêsu bảo:
? “Ta đây”. C. Giuđa là kẻ định nộp Người cũng đứng đó với bọn chúng. Nhưng khi Người vừa nói “Ta đây”, bọn chúng giật lùi lại và ngã xuống đất. Người lại hỏi chúng: ? “Các ngươi tìm ai?” C. Chúng thưa: S. “Giêsu Nadarét”. C. Chúa Giêsu đáp lại:
? “Ta đã bảo các ngươi rằng Ta đây! Vậy nếu các ngươi tìm bắt Ta, thì hãy để cho những người này đi”. C. Như thế là trọn lời đã nói: Con chẳng để mất người nào trong những kẻ Cha đã trao phó cho Con. Bấy giờ Simon Phêrô có sẵn thanh gươm, liền rút ra đánh tên đầy tớ vị thượng tế, chém đứt tai bên phải. Đầy tớ ấy tên là Mancô. Nhưng Chúa Giêsu bảo Phêrô rằng: ? “Hãy xỏ gươm vào bao. Chén Cha Ta đã trao lẽ nào Ta không uống!” C. Bấy giờ, toán quân, trưởng toán và vệ binh của người Do-thái bắt Chúa Giêsu trói lại, và điệu Người đến nhà ông Anna trước, vì ông là nhạc phụ của Caipha đương làm thượng tế năm ấy. Chính Caipha là người đã giúp ý kiến này cho người Do-thái: để một người chết thay cho cả dân thì lợi hơn. Còn Phêrô và môn đệ kia vẫn theo Chúa Giêsu. Môn đệ sau này quen vị thượng tế nên cùng với Chúa Giêsu vào trong sân vị thượng tế, còn Phêrô đứng lại ngoài cửa. Vì thế, môn đệ kia là người quen với vị thượng tế, nên đi ra nói với người giữ cửa và dẫn Phêrô vào. Cô nữ tì gác cửa liền bảo Phêrô: S. “Có phải ông cũng là môn đệ của người đó không?” C. Ông đáp: S. “Tôi không phải đâu”. C. Đám thủ hạ và vệ binh có nhóm một đống lửa và đứng đó mà sưởi vì trời lạnh, Phêrô cũng đứng sưởi với họ. Vị thượng tế hỏi Chúa Giêsu về môn đệ và giáo lý của Người. Chúa Giêsu đáp: ? “Tôi đã nói công khai trước mặt thiên hạ, Tôi thường giảng dạy tại hội đường và trong đền thờ, nơi mà các người Do-thái thường tụ họp, Tôi không nói chi thầm lén cả. Tại sao ông lại hỏi Tôi? Ông cứ hỏi những người đã nghe Tôi về những điều Tôi đã giảng dạy. Họ đã quá rõ điều Tôi nói”. C. Nghe vậy, một tên vệ binh đứng đó vả mặt Chúa Giêsu mà nói: S. “Anh trả lời vị thượng tế như thế ư”. C. Chúa Giêsu đáp: ? “Nếu Ta nói sai, hãy chứng minh điều sai đó; mà nếu Ta nói phải, thì tại sao anh lại đánh Ta?” C. Rồi Anna cho giải Người vẫn bị trói đến cùng vị thượng tế Caipha. Lúc ấy Phêrô đang đứng sưởi. Họ bảo ông: S. “Có phải ông cũng là môn đệ người đó không?” C. Ông chối và nói: S. “Tôi không phải đâu”. C. Một tên thủ hạ của vị thượng tế, có họ với người bị Phêrô chém đứt tai, cãi lại rằng: S. “Tôi đã chẳng thấy ông ở trong vườn cùng với người đó sao?” C. Phêrô lại chối nữa, và ngay lúc đó gà liền gáy.

Bấy giờ họ điệu Chúa Giêsu từ nhà Caipha đến pháp đình. Lúc đó tảng sáng và họ không vào pháp đình để khỏi bị nhơ bẩn và để có thể ăn Lễ Vượt Qua. Lúc ấy Philatô ra ngoài để gặp họ và nói: S. “Các ngươi tố cáo người này về điều gì”. C. Họ đáp: S. “Nếu hắn không phải là tay gian ác, chúng tôi đã không nộp cho quan”. C. Philatô bảo họ: S. “Các ông cứ bắt và xét xử theo luật của các ông”. C. Nhưng người Do-thái đáp lại: S. “Chúng tôi chẳng có quyền giết ai cả”. C. Thế mới ứng nghiệm lời Chúa Giêsu đã nói trước: Người sẽ phải chết cách nào. Bấy giờ Philatô trở vào pháp đình gọi Chúa Giêsu đến mà hỏi: S. “Ông có phải là Vua dân Do-thái không?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Quan tự ý nói thế, hay là có người khác nói với quan về tôi?” C. Philatô đáp: S. “Ta đâu phải là người Do-thái. Nhân dân ông cùng các thượng tế đã trao nộp ông cho ta. Ông đã làm gì?” C. Chúa Giêsu đáp: ?“Nước tôi không thuộc về thế gian này. Nếu nước tôi thuộc về thế gian này, thì những người của tôi đã chiến đấu để tôi không bị nộp cho người Do-thái, nhưng nước tôi không thuộc chốn này”. C. Philatô hỏi lại: S. “Vậy ông là Vua ư?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Quan nói đúng: Tôi là Vua. Tôi sinh ra và đến trong thế gian này là chỉ để làm chứng về Chân lý. Ai thuộc về Chân lý thì nghe tiếng tôi”. C. Philatô bảo Người: S. “Chân lý là cái gì?” C. Nói lời này xong, ông lại ra gặp người Do-thái và bảo họ: S. “Ta không thấy nơi người này có lý do để khép án. Nhưng theo tục lệ các ngươi, ta sẽ phóng thích cho các ngươi một tù nhân vào dịp Lễ Vượt Qua. Vậy các ngươi có muốn ta phóng thích Vua Do-thái cho các ngươi chăng?” C. Họ liền la lên: S. “Không phải tên đó, nhưng là Baraba”. C. Baraba là một tên cướp. Bấy giờ Philatô truyền đem Chúa Giêsu đi mà đánh đòn Người. Binh sĩ kết một triều thiên bằng gai nhọn đội lên đầu Người và nói: S. “Tâu Vua Do-thái!” C. Và vả mặt Người. Philatô lại ra ngoài và nói: S. “Đây ta cho dẫn người ấy ra ngoài cho các ngươi để các ngươi biết rằng ta không thấy nơi người ấy một lý do để kết án”. C. Bấy giờ Chúa Giêsu đi ra, đội mão gai và khoác áo đỏ. Philatô bảo họ: S. “Này là Người”. C. Vừa thấy Người, các thượng tế và vệ binh liền la to: S. “Đóng đinh nó vào thập giá! Đóng đinh nó vào thập giá!” C. Philatô bảo họ: S. “Đấy các ngươi cứ bắt và đóng đinh ông vào thập giá, phần ta, ta không thấy lý do nào kết tội ông”. C. Người Do-thái đáp lại: S. “Chúng tôi đã có luật, và theo luật đó nó phải chết, vì nó tự xưng là Con Thiên Chúa”. C. Nghe lời đó Philatô càng hoảng sợ hơn. Ông trở vào pháp đình và nói với Chúa Giêsu: S. “Ông ở đâu đến?” C. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại câu nào. Bấy giờ Philatô bảo Người: S. “Ông không nói với ta ư? Ông không biết rằng ta có quyền đóng đinh ông vào thập giá và cũng có quyền tha ông sao?” C. Chúa Giêsu đáp: ? “Quan chẳng có quyền gì trên tôi, nếu từ trên không ban xuống cho, vì thế nên kẻ nộp tôi cho quan, mắc tội nặng hơn”. C. Từ lúc đó Philatô tìm cách tha Người. Nhưng người Do-thái la lên: S. “Nếu quan tha cho nó, quan không phải là trung thần của Xêsa, vì ai xưng mình là vua, kẻ đó chống lại Xêsa”. C. Philatô vừa nghe lời đó, liền cho điệu Chúa Giêsu ra ngoài rồi ông lên ngồi toà xử, nơi gọi là Nền đá, tiếng Do-thái gọi là Gabbatha. Lúc đó vào khoảng giờ thứ sáu ngày chuẩn bị Lễ Vượt Qua. Philatô bảo dân: S. “Đây là vua các ngươi”. C. Nhưng họ càng la to: S. “Giết đi! Giết đi! Đóng đinh nó đi!” C. Philatô nói: S. “Ta đóng đinh vua các ngươi ư?” C. Các thượng tế đáp: S. “Chúng tôi không có vua nào khác ngoài Xêsa”. C. Bấy giờ quan giao Người cho họ đem đóng đinh.

Vậy họ điệu Chúa Giêsu đi. Và chính Người vác thập giá đến nơi kia gọi là Núi Sọ, tiếng Do-thái gọi là Golgotha. Ở đó họ đóng đinh Người trên thập giá cùng với hai người khác nữa: mỗi người một bên, còn Chúa Giêsu thì ở giữa. Philatô cũng viết một tấm bảng và sai đóng trên thập giá. Bảng mang những hàng chữ này: “Giêsu, Nadarét, vua dân Do-thái”. Nhiều người Do-thái đọc được bảng đó, vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh thì gần thành phố, mà bảng viết thì bằng tiếng Do-thái, Hy-lạp và La-tinh. Vì thế các thượng tế đến thưa với Philatô: S. Xin đừng viết “Vua dân Do Thái”, nhưng nên viết: “Người này đã nói: ‘Ta là vua dân Do-thái’”. C. Philatô đáp: S. “Điều ta đã viết là đã viết”. C. Khi quân lính đã đóng đinh Chúa Giêsu trên thập giá rồi thì họ lấy áo Người chia làm bốn phần cho mỗi người một phần, còn cái áo dài là áo không có đường khâu, đan liền từ trên xuống dưới. Họ bảo nhau: S. “Chúng ta đừng xé áo này, nhưng hãy rút thăm xem ai được thì lấy”. C. Hầu ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Chúng đã chia nhau các áo Ta và đã rút thăm áo dài của Ta”. Chính quân lính đã làm điều đó.

Đứng gần thập giá Chúa Giêsu, lúc đó có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria, vợ ông Clopas và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: ? “Hỡi Bà, này là con Bà”. C. Rồi Người lại nói với môn đệ: ? “Này là Mẹ con”. C. Và từ giờ đó môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình. Sau đó, vì biết rằng mọi sự đã hoàn tất, để lời Kinh Thánh được ứng nghiệm, Chúa Giêsu nói: ? “Ta khát!” C. Ở đó có một bình đầy dấm. Họ liền lấy miếng bông biển thấm đầy dấm cắm vào đầu ngành cây hương thảo đưa lên miệng Người. Khi đã nếm dấm rồi, Chúa Giêsu nói: ? “Mọi sự đã hoàn tất”. C. Và Người gục đầu xuống trút hơi thở cuối cùng.

(Quỳ gối thinh lặng thờ lạy trong giây lát)

Hôm đó là ngày chuẩn bị lễ: để tội nhân khỏi treo trên thập giá trong ngày Sabbat, vì ngày Sabbat là ngày đại lễ, nên người Do-thái xin Philatô cho đánh dập ống chân tội nhân và cho cất xác xuống. Quân lính đến đánh dập ống chân của người thứ nhất và người thứ hai cùng chịu treo trên thập giá với Người. Nhưng lúc họ đến gần Chúa Giêsu, họ thấy Người đã chết, nên không đánh dập ống chân Người nữa, tuy nhiên một tên lính lấy giáo đâm cạnh sườn Người; tức thì máu cùng nước chảy ra. Kẻ đã xem thấy thì đã minh chứng, mà lời chứng của người đó chân thật, và người đó biết rằng mình nói thật để cho các người cũng tin nữa. Những sự việc này đã xảy ra để ứng nghiệm lời Kinh Thánh: “Người ta sẽ không đánh dập một cái xương nào của Người”. Lời Kinh Thánh khác rằng: “Họ sẽ nhìn xem Đấng họ đã đâm thâu qua”.

Sau đó, Giuse người xứ Arimathia, môn đệ Chúa Giêsu, nhưng thầm kín vì sợ người Do-thái, xin Philatô cho phép cất xác Chúa Giêsu. Philatô cho phép. Và ông đến cất xác Chúa Giêsu. Nicôđêmô cũng đến, ông là người trước kia đã đến gặp Chúa Giêsu ban đêm. Ông đem theo chừng một trăm cân mộc dược trộn lẫn với trầm hương. Họ lấy xác Chúa Giêsu và lấy khăn bọc lại cùng với thuốc thơm theo tục khâm liệm người Do-thái. Ở nơi Chúa chịu đóng đinh có cái vườn và trong vườn có một ngôi mộ mới, chưa chôn cất ai. Vì là ngày chuẩn bị lễ của người Do-thái và ngôi mộ lại rất gần, nên họ đã mai táng Chúa Giêsu trong mộ đó.

Đó là lời Chúa.

CẦU NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

10- Phụng vụ Lời Chúa được tiếp tục bằng lời cầu nguyện cho mọi người theo cách thức sau đây: Phó tế đứng tại giảng đài, đọc lời kêu mời nói lên ý cầu nguyện. Đoạn mọi người thinh lặng cầu nguyện trong giây lát. Sau đó linh mục đứng tại ghế hoặc tại bàn thờ (hay tại giảng đài) dang tay đọc lời nguyện. Trong suốt thời gian đọc các lời nguyện, giáo dân có thể quỳ hoặc đứng.

11- Hội Đồng Giám Mục có thể tiên liệu một lời tung hô của dân chúng trước lời nguyện của linh mục, hoặc có thể quyết định giữ lại lời kêu mời cổ truyền của phó tế: Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên và mọi người quỳ gối thinh lặng cầu nguyện rồi đứng lên.

12- Trong trường hợp cộng đoàn có nhu cầu đặc biệt quan trọng Đấng thường quyền sở tại có thể cho phép hoặc ấn định một lời nguyện đặc biệt.

13- Trong số các lời nguyện ghi trong sách lễ, linh mục được phép chọn những lời nguyện nào thích hợp với hoàn cản địa phương, nhưng phải giữ thứ tự những ý nguyện đã được quy định để cầu nguyện cho mọi người (quy chế tổng quát sách lễ Rôma, số 46).

I. Cầu Cho Hội Thánh

Anh (chị) em thân mến, ta hãy cầu nguyện cho Hội thánh Chúa. Xin cho Hội thánh được hiệp nhất và bình an, được Chúa bảo tồn ở khắp nơi trên hoàn cầu. Xin Chúa cũng ban cho ta được an cư lạc nghiệp hầu tôn vinh Người là Cha toàn năng.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho muôn dân được thấy vinh quang Chúa tỏ hiện nơi Đức Kitô là Đấng yêu thương gầy dựng Hội thánh Chúa. Cúi xin Chúa bảo vệ giữ gìn để Hội thánh đang hiện diện khắp nơi luôn tin kính một niềm mà xưng tụng danh Chúa. Chúng con cầu xin…

II. Cầu Cho Đức Thánh Cha

Ta hãy cầu cho Đức Thánh Cha T. Chính Chúa đã chọn Người giữa hàng giám mục, xin Chúa cũng ban cho Người luôn an khang để lãnh đạo toàn thể dân thánh.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa an bài mọi sự cách khôn ngoan lạ lùng. Chính Chúa đã tuyển chọn Đức Thánh Cha T. và trao cho Người nhiệm vụ lãnh đạo dân thánh Chúa. Xin nhận lời chúng con cầu nguyện mà ân cần săn sóc giữ gìn Người; để nhờ Người, đức tin của mọi tín hữu luôn bền vững sắt son, chúng con cầu xin…

III. Cầu Cho Hàng Giáo Sĩ và Giáo Dân.

Ta hãy cầu cho Đức (Hồng Y) Giám Mục T. của giáo phận chúng ta, cho hàng Giám Mục, linh mục, phó tế, cũng như mọi người phục vụ dân thánh, và cho toàn thể cộng đoàn tín hữu khắp địa cầu.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Thánh Thần Chúa luôn hướng dẫn và thánh hóa toàn thể Hội thánh. Nay chúng con tha thiết nguyện cầu: Xin Chúa thương cho mỗi thành phần Hội thánh, biết theo ơn đặc sủng Chúa ban để trung thành phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

IV. Cầu Cho Dự Tòng

Ta hãy cầu cho anh chị em dự tòng (có mặt nơi đây). Xin Chúa thương soi sáng tâm hồn họ, để họ được hiểu biết Chúa hơn. Xin Người mở lượng từ bi ban cho họ ơn tái sinh nhờ bí tích Thánh Tẩy, để họ được thứ tha tội lỗi và trở thành chi thể của Chúa Kitô.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa làm cho Hội thánh không ngừng sinh thêm nhiều con cái. Xin cho anh chị em dự tòng (có mặt nơi đây), được thêm lòng tin kính và hiểu biết Chúa hơn, hầu xứng đáng lãnh nhận ơn tái sinh nhờ bí tích Thánh Tẩy và gia nhập đoàn nghĩa tử của Chúa. Chúng con cầu xin…

V. Cầu Cho mọi tín hữu được hiệp nhất

Ta hãy cầu cho mọi anh chị em cùng tin vào Đức Kitô, và đang cố gắng sống theo sự thật, xin Chúa thương quy tụ và gìn giữ tất cả trong Hội thánh duy nhất của Người.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa muốn làm cho những ai ly tán được trở về đoàn tụ, và những kẻ xum vầy được luôn luôn hiệp nhất. Xin Chúa thương nhìn đến đoàn chiên của Đức Kitô, và cho mọi người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được mãi mãi đoàn kết với nhau, nhờ sống cùng một đức tin toàn vẹn, và chia sẻ một đức ái vững bền. Chúng con cầu xin…

VI. Cầu Cho Người Do Thái

Ta hãy cầu cho người Do Thái. Cha ông họ là những người đầu tiên đã được nghe lời Chúa phán dạy. Giờ đây xin Chúa làm cho họ ngày càng mến yêu Danh Thánh Chúa và trung thành với giao ước của Người.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã hứa ban ơn cứu độ cho tổ phụ Abraham và con cháu của người. Xin Chúa thương nghe lời Hội thánh cầu nguyện cho dân tộc Chúa đã chọn xưa kia cũng được hưởng nhờ ơn cứu độ viên mãn của Đức Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời.

VII. Cầu Cho Người Ngoài Kitô Hữu

Ta hãy cầu cho những người ngoài Kitô giáo. Xin Chúa Thánh Thần soi sáng dẫn đưa họ vào đường cứu độ.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho những người tuy không tin vào Đức Kitô, nhưng trước mặt Chúa vẫn ăn ngay ở lành, được hồng ân tìm thấy chân lý. Xin cũng ban cho chính chúng con, ngày càng biết tương thân tương ái và thiết tha sống kết hợp với Chúa, để trước mặt thế gian, chúng con có thể minh chứng rằng Chúa chính là tình thương. Chúng con cầu xin…

VIII. Cầu Cho Người Vô Thần

Ta hãy cầu cho những người không nhận biết Thiên Chúa, nhưng vẫn sống theo lương tâm ngay thẳng: Xin cho họ một ngày kia được gặp thấy Người.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đặt vào trái tim con người niềm khát vọng đi tìm kiếm Chúa, khiến con người chỉ được bình an khi gặp thấy Chúa. Xin cho mọi người khắp thế gian dù đang sống giữa muôn và nghịch cảnh, vẫn có thể nhận ra những dấu chỉ của tình yêu Chúa; và khi thấy các tín hữu sống đời bác ái yêu thương, họ sẽ vui mừng tin nhận duy có Chúa là Thiên Chúa đích thực và là Cha của hết mọi người. Chúng con cầu xin…

IX. Cầu Cho Những Nhà Lãnh Đạo Quốc Gia

Ta hãy cầu cho những nhà lãnh đạo quốc gia. Xin Chúa thương soi trí mở lòng để họ biết hành động theo thánh ý mà tận tình lo cho dân nước được an cư lạc nghiệp và vui hưởng tự do.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa làm chủ lòng người, và bảo vệ quyền lợi của nhân dân các nước. Xin ghé mắt nhân từ mà ban ơn soi sáng trợ lực cho những nhà lãnh đạo quốc gia, để họ biết cùng nhau làm cho thế giới được hòa bình, muôn dân được thịnh vượng, và mọi người được hưởng tự do tôn giáo. Chúng con cầu xin…

X. Cầu Cho Những Người Đau Khổ

Anh (chị) em thân mến, ta hãy cầu xin Thiên Chúa là Cha toàn năng, dủ lòng thương giải thoát thế giới khỏi mọi sai lầm, khử trừ muôn bệnh tật, xua đuổi cơn đói kém, mở cửa ngục tù, bẻ tan xiềng xích, giữ gìn lữ khách được bình an, đưa kẻ tha hương về xứ sở, chữa lành các bệnh nhân, ban ơn cứu độ cho người đang hấp hối.

(Chúng ta hãy quỳ xuống – Xin đứng lên)

Thinh lặng cầu nguyện. Rồi linh mục đọc:

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa hằng an ủi kẻ ưu phiền, ban sức mạnh cho người vất vả lầm than. Xin nghe tiếng nhân loại khổ đau nài van Chúa, và ban cho những người lâm cơn hoạn nạn được vui mừng cảm thấy Chúa nhân hậu phù trì. Chúng con cầu xin…

PHẦN THỨ HAI
KÍNH THỜ THÁNH GIÁ

14- Dứt lời nguyện cho mọi người, đến phần long trọng kính thờ thánh giá. Ở đây có hai hình thức suy tôn thánh giá, nên chọn hình thức nào thích hợp hơn với nhu cầu mục vụ.

HÌNH THỨC THỨ NHẤT

15- Đem thánh giá có phủ khăn ra bàn thờ, hai người giúp lễ cầm nến cháy đi hai bên. Linh mục đứng trước bàn thờ, nhận thánh giá, mở phần khăn che phía đầu thánh giá, nâng thánh giá lên và hát câu kêu mời: “Đây là cây thánh giá”, phó tế hoặc ca đoàn hát giúp linh mục. Mọi người đáp: “Ta hãy đến bái thờ”. Hát xong, mọi người quỳ gối thinh lặng cầu nguyện giây lát, linh mục vẫn đứng nâng cao thánh giá.

Rồi linh mục mở khăn che cánh phải thánh giá, nâng cao thánh giá lên hát kêu mời như trên.

Sau cùng linh mục bỏ hết khăn che thánh giá, lại nâng lên và hát kêu mời như trên.

16- Rồi linh mục mang thánh giá, xuống lối vào cung thánh hoặc đến nơi nào xứng hợp có hai người cầm nến cháy đi hai bên; đến nơi, ngài đặt thánh giá tại đó, hoặc trao cho hai người giúp lễ đỡ hai bên, còn đèn nến thì đặt hai bên tả hữu. Đoạn bắt đầu việc tôn thờ thánh giá như số 18 dưới đây.

HÌNH THỨC THỨ HAI

17- Linh mục, hoặc phó tế, hay một thừa tác viên khác xứng hợp, cùng các người giúp lễ, đến cửa nhà thờ, nhận thánh giá không phủ khăn, các người giúp lễ thì nhận nến cháy, rồi đi kiệu qua lòng nhà thờ lên cung thành. Tại ba nơi: ở gần cửa, ở giữa nhà thờ và ở lối vào cung thánh, người cầm thánh giá nâng cao lên và hát câu kêu mời: “Đây là cây thánh giá”; mọi người đáp: “Ta hãy đến bái thờ”, rồi quỳ gối thinh lặng giây lát như trên. Sau đó đặt thánh giá và đèn, nến ở lối vào cung thánh như trên (số 16).

LỜI MỜI GỌI KÍNH THỜ THÁNH GIÁ

X. Đây là cây thánh giá,
Nơi đã treo Đấng Cứu Độ trần gian.

Đ. Ta hãy đến bái thờ.

KÍNH THỜ THÁNH GIÁ

18- Để kính thờ thánh giá, linh mục, giáo sĩ và giáo dân lần lượt tiến lên và tỏ lòng tôn kính thánh giá bằng cách bái gối, hoặc bằng dấu hiệu nào khác thích hợp, theo phong tục địa phương, ví dụ hôn thánh giá.

Trong khi đó hát điệp ca: “Lạy Chúa, chúng con tôn thờ thánh giá Chúa”, những câu than vãn hoặc các thánh ca khác thích hợp; những ai tôn thờ xong thì trở về chỗ ngồi.

19- Chỉ dùng một thánh giá duy nhất trong nghi thức kính thờ. Nếu vì số dân chúng đông, mỗi người không thể lên kính thờ thánh giá được, thì sau khi một phần tín hữu đã kính thờ, linh mục cầm thánh giá lên đứng trước bàn thờ, nói ít lời kêu mời dân chúng kính thờ thánh giá, rồi nâng cao thánh giá trong giây lát để mọi người thinh lặng tôn thờ.

20- Nghi thức kính thờ chấm dứt, mang thánh giá đặt vào chỗ của thánh giá tại bàn thờ. Còn các nến cháy đặt chung quanh bàn thờ hay đặt gần thánh giá.

PHẦN THỨ BA
RƯỚC LỄ

21- Trải khăn phủ bàn thờ và khăn thánh, rồi đặt sách lễ lên. Đoạn phó tế hoặc chính linh mục, nếu không có phó tế, đi rước Mình Thánh từ bàn thờ phụ theo đường tắt về bàn thờ chính, trong lúc đó mọi người đứng thinh lặng. Hai người giúp lễ cầm nến cháy cùng đi rước Mình Thánh với linh mục, sau đó đặt nến trên hay bên cạnh bàn thờ.

22- Khi phó tế đã đặt Mình Thánh trên bàn thờ và mở bình đựng Mình Thánh rồi, linh mục tiến lại, cúi mình và bước lên bàn thờ. Nếu không có phó tế thì chính linh mục đặt Mình Thánh trên bàn thờ, mở bình đựng Mình Thánh, cúi mình, rồi chắp tay đọc lớn tiếng:

Vâng lệnh Chúa Cứu Thế và theo lời Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng:

Linh mục dang tay đọc chung với mọi người:

Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng này, và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa trước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.

Linh mục dang tay đọc tiếp:

Lạy Cha, xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ, xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Nhờ Cha rộng lòng thương cứu giúp, chúng con sẽ luôn luôn thoát khỏi tội lỗi, và được an toàn khỏi mọi biến loạn, đang khi chúng con đợi chờ ngày hồng phúc, ngày Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu Độ chúng con ngự đến.

Linh mục chắp tay. Giáo dân tung hô:
Vì Cha là Vua là Chúa quyền năng, là Đấng vinh hiển muôn đời.

23- Linh mục chắp tay đọc thầm:

Lạy Chúa Giêsu Kitô, chớ gì việc rước Mình và Máu Chúa đừng nên cớ cho con bị xét xử và luận phạt, nhưng nhờ lòng nhân lành Chúa, gìn giữ và cứu chữa hồn xác con.

24- Linh mục cúi mình, tay trái cầm bình đựng Mình Thánh, tay phải cầm Bánh Thánh, giơ cao một chút, quay về phía giáo dân, đọc lớn tiếng:

Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian: Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.

Linh mục đọc chung một lần với giáo dân:

Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự đến cùng con, nhưng xin Chúa chỉ phán một lời thì con được lành mạnh.

Rồi linh mục cung kính rước Mình Thánh.

25- Linh mục đi trao Mình Thánh Chúa cho giáo dân. Đang khi đó có thể hát một bài thánh ca thích hợp.

26- Cho rước lễ xong, một thừa tác viên xứng hợp mang bình đựng Mình Thánh đến nơi đã dọn sẵn trong phòng áo, hoặc đặt vào nhà tạm nếu hoàn cảnh đòi buộc.

27- Có thể giữ thinh lặng thánh trong giây lát, rồi linh mục đọc lời nguyện sau đây:

Lời nguyện hiệp lễ

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, nhờ mầu nhiệm Đức Giêsu Kitô chịu chết và sống lại, Chúa đã thương đổi mới chúng con. Xin tiếp tục công trình Chúa đã thực hiện mà làm cho chúng con tích cực thông phần vào mầu nhiệm cao cả này, để suốt đời chúng con hăng say phụng sự Chúa. Chúng con cầu xin…

28- Để giải tán, linh mục đứng quay về phía dân chúng, giơ tay trên họ và đọc lời nguyện sau đây:

Lời nguyện chúc lành trên dân Chúa

Lạy Chúa, cộng đoàn dân Chúa đây vừa tưởng niệm Con Một Chúa đã chịu chết vì chúng con, và tin tưởng sẽ được phục sinh với Người. Xin Chúa thương giáng phúc dồi dào, mà ban cho họ ơn tha thứ và niềm an ủi. Xin cho họ ngày càng thêm tin kính Chúa, và vững lòng trông cậy sẽ được ơn cứu chuộc muôn đời. Chúng con cầu xin…

Mọi người yên lặng ra về. Vào lúc thuận tiện lột khăn bàn thờ.

29- Những ai đã tham dự nghi thức phụng vụ trọng thể ban chiều này, không buộc phải đọc giờ Kinh Chiều

THỨ NGHI THỨC BẢY TUẦN THÁNH

Thứ Bảy Tuần Thánh, Hội thánh ở bên cạnh mồ Chúa để suy niệm cuộc thương khó và sự chết của Người, nên bàn thờ không trải khăn, không cử hành thánh lễ, cũng không có phụng vụ Lời Chúa, cho đến sau đêm Canh Thức Vượt Qua, nghĩa là đêm mong chờ Chúa sống lại, sau đó mới hưởng niềm vui phục sinh, một niềm vui tràn trề trải dài suốt 50 ngày. Hôm nay chỉ có thể cho rước lễ như Của Ăn Đàng.

Ngày hôm nay chỉ có các Giờ Kinh Phụng Vụ. Tuy vậy hôm nay không phải chỉ là ngày chờ mong đại lễ. Chúng ta không hội họp nhau mà chỉ hồi tâm nhớ đến Chúa Kitô chôn trong mồ, nhưng chúng ta cũng đặt niềm tin vào một mầu nhiệm như chúng ta tuyên xưng trong Kinh Tin Kính “Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô xuống ngục tổ tông”. Mầu nhiệm Chúa Kitô xuống ngục tổ tông (hoặc âm phủ, nơi ở của người chết) ở trung tâm mầu nhiệm Vượt Qua. Việc Chúa đi xuống tiếp nối việc Người tự hạ khi chết trên thập giá, và cho thấy rõ Người thực sự đã chết: linh hồn Người đã thực sự lìa khỏi xác và đến với linh hồn các người công chính khác. Nhưng việc Chúa xuống âm phủ cũng biểu lộ tính cách lớn lao của cuộc chiến thắng của Người: Người đã từ đáy vực thẳm bước lên sự sống. Đồng thời mầu nhiệm này cũng khai mào cho cuộc chiến thắng ấy: Chúa Kitô xuống với kẻ đang mong đợi Người đến báo tin họ sắp được giải phóng. Việc xuống âm phủ là khởi điểm của cuộc đi lên, sẽ đưa Chúa Kitô tới vinh quang phục sinh và thăng thiên: “Đấng đã xuống cũng chính là Đấng đã lên cao” (Ep 4,10).

Trong các Giờ Kinh Phụng Vụ ngày hôm nay, chúng ta cầu nguyện như sau: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Con Một Chúa đã chịu chôn vùi trong lòng đất, nhưng đã chiến thắng tử thần và khải hoàn trỗi dậy. Vậy tất cả chúng con là những tín hữu đã cùng được mai táng với Người khi lãnh nhận phép rửa, cũng xin được nhờ ơn Người phục sinh mà đạt tới nguồn sống muôn đời”.
CHÚA NHẬT PHỤC SINH
CANH THỨC VƯỢT QUA

Ý NGHĨA
Việc tưởng niệm Chúa Kitô chịu chết và sống lại đạt tới điểm cao nhất trong đêm Vượt Qua, là đêm thánh của người Kitô hữu. Theo như lời thánh Âutinh nói, cuộc họp mừng đêm nay là “Mẹ của hết mọi buổi canh thức phụng vụ”. Chúa Kitô đã dạy môn đệ phải canh thức để đợi chờ Tân Lang đến (Mt 25, 13), vì thế người Kitô hữu có dành một phần ban đêm để cầu nguyện thì cũng là chuyện bình thường. Nhưng không có đêm nào thích hợp cho một cuộc họp mừng phụng vụ bằng đêm Vượt Qua: Đây là đêm dân Israel ăn thịt chiên và được cứu thoát, là đêm họ đi bộ qua biển đỏ; đây là đêm Chúa Kitô đập tan xiềng xích tử thần và từ âm phủ khải hoàn đi lên; đây còn là đêm Giáo hội, ngay từ buổi đầu vẫn chờ mong Chúa trở lại.

Đêm nay, cộng đoàn Kitô hữu trước tiên, nghe đọc lời Thiên Chúa, để ôn lại tất cả lịch sử cứu độ, từ buổi khai thiên lập địa và việc dân Israel đi ra khỏi đất Aicập, cho đến việc Chúa Giêsu sống lại và được tôn dương trên trời. Trong khi nghe đọc Sách Thánh cộng đoàn được Nến Phục Sinh soi sáng: nến này tượng trưng đám mây sáng xưa đã dẫn dân Israel trên đường về đất hứa, và đặc biệt tượng trưng Chúa Kitô là ánh sáng soi thế giới.

Tiếp đó cử hành bí tích Vượt Qua: Phép Rửa nhờ đó con người cùng chết với Chúa Kitô để cùng sống sự sống mới với Người (Rm 6, 8); Phép Thêm Sức ghi ấn tích Chúa Kitô vào người Kitô hữu và ban Thánh Thần cho họ; Phép Thánh Thể là tiệc thánh của Giao Ước Mới, trong đó các môn đệ nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người bẻ bánh trao cho họ (Lc 24,35).

Trong đêm Vượt Qua, người Kitô hữu được nếm trước niềm vui của thành Giêrusalem mới. Vì thế đêm nay vang dội tiếng hát Halleluia.

NHỮNG ĐỒ CẦN CHUẨN BỊ TRƯỚC

1. Trên bàn thờ chính:
- Thánh giá và chân nến.
- Khăn trải bàn thờ.
- Nhà tạm không Mình Thánh, mở cửa.

2. Trên bàn nhỏ cạnh bàn thờ chính:
- Sách lễ, giá sách.
- Chén Thánh, bánh, rượu, khăn lau.
- Chuông.

3. Trong cung thánh:
- Chân nến Phục Sinh.
- Ghế ngồi cho chủ tế và phụ tế.
- Lu nước sẽ làm phép.
- Bình sẽ đựng nước thánh.

Nếu có rửa tội trong thánh lễ:
- Sách Nghi Thức Rửa Tội.
- Dầu thánh, bông gòn để lau.
- Áo trắng, nến.

4. Ngoài sân nhà thờ:
- Sách Nghi Thức Tuần Thánh.
- Bình hương.
- Nến nhỏ để châm nến Phục Sinh.
- Bật lửa.
- Củi.
- Nến cho chủ tế.

5. Trong phòng thánh:
- Lễ phục mầu trắng cho chủ tế và các phụ tế.
- Hoa sẽ dùng để chưng bàn thờ.

QUI LUẬT CẦN BIẾT

1- Theo truyền thống xa xưa, đêm nay là đêm Chúa truyền phải giữ (Xh 12,42), nên theo lời khuyên của Tin Mừng (Lc 12,35tt) các tín hữu cầm đèn cháy sáng trong tay, giống như người trông đợi Chúa trở lại, để lúc Người đến, Người thấy họ tỉnh thức và mời họ vào bàn tiệc.

2- Trong đêm canh thức này, nghi thức được sắp xếp như sau:

-Phần thứ nhất: Thắp nến phục sinh:

-Phần thứ hai: Phụng Vụ Lời Chúa. Tin tưởng vào Lời Chúa và điều Chúa hứa, Hội Thánh suy niệm những kỳ công Chúa đã làm cho dân Người, ngay từ lúc khởi nguyên.

-Phần thứ ba: Phụng Vụ Thánh Tẩy. Hội Thánh đón nhận các anh em tân tòng, và toàn thể cộng đoàn lặp lại những lời cam kết khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy.

-Phần thứ tư: Phụng Vụ Thánh Thể. Gần rạng sáng Phục Sinh, cùng với những chi thể mới đã được tái sinh trong bí tích Thánh Tẩy, Hội Thánh được mời vào bàn tiệc mà Chúa đã dọn sẵn cho dân Người qua sự chết và phục sinh của Người.

3- Tất cả Canh Thức Vượt Qua được cử hành về đêm, nên phải bắt đầu lúc chập tối và phải kết thúc trước rạng đông ngày Chúa nhật.

4- Mặc dầu được cử hành trước nửa đêm, thánh lễ Vọng vẫn là lễ Chúa nhật Phục Sinh. Ai dự lễ đêm, có thể rước lễ một lần trong thánh lễ nhì Phục Sinh.

5- Ai cử hành hoặc đồng tế lễ đêm còn được cử hành hoặc đồng tế trong thánh lễ ngày Phục Sinh.

6- Linh mục và các thừa tác viên khác, như phó tế và các linh mục đồng tế phải mặc lễ phục màu trắng.

Phải chuẩn bị nến cho mọi người tham dự đêm Canh Thức này.

PHẦN THỨ NHẤT
KHAI MẠC TRỌNG THỂ ĐÊM CANH THỨC
NGHI THỨC THẮP NẾN PHỤC SINH
LÀM PHÉP LỬA VÀ CHUẨN BỊ NẾN

7- Tắt hết đèn trong nhà thờ. Chuẩn bị sẵn một bếp lửa nơi xứn hợp ngoài nhà thờ. Dân chúng tụ họp quanh lò lửa. Linh mục và các người giúp lễ tiến đến, một người cầm nến phục sinh. Nơi nào không thể đốt lửa ngoài nhà thờ thì cử hành nghi thức như số 13.

8- Linh mục chào dân chúng như thường lệ và nói vắn tắt về ý nghĩa đêm canh thức, bằng những lời sau đây hoặc tương tự:

Anh (chị) em thân mến,

Trong đêm rất thánh này, đêm Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, đã hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua, tức là từ cõi chết sống lại, Hội Thánh kêu mời con cái ở khắp nơi trên hoàn cầu, cùng họp nhau lại mà canh thức cầu nguyện.

Vậy chúng ta sẽ cùng nhau chăm chú nghe Lời Chúa, và sốt sắng cử hành những bí tích tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô, với niềm hy vọng sẽ được cùng Người chiến thắng sự chết, và cùng Người luôn sống kết hợp với Chúa Cha.

9- Rồi làm phép lửa.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã sai Con Một đến giãi ánh vinh quang rực rỡ của Chúa vào lòng tín hữu. Xin thánh ? hoá ngọn lửa mới này, và trong suốt thời gian mừng lễ Vượt Qua, xin cho niềm khao khát Nước Trời cũng bừng lên thiêu đốt lòng chúng con, và thanh tẩy muôn vàn tội lỗi, để mai sau chúng con xứng đáng vào thiên quốc tham dự lễ ánh sáng muôn đời. Chúng con cầu xin

Lấy lửa mới thắp nến Phục Sinh

10- Nếu xét là nên dùng một vài biểu hiệu để làm nổi bật ý nghĩa và vẻ trang trọng của nến phục sinh thì có thể làm theo nghi thức sau đây: Làm phép rửa xong, người giúp lễ hoặc một phụ tế cầm nến phục sinh đứng trước chủ tế. Chủ tế dùng mũi nhọn vẽ hình thánh giá trên nến, rồi viết chữ An-pha phía trên, và chữ Ô-mê-ga ở phía dưới hình thánh giá, đoạn viết 4 con số chỉ năm đó ở 4 góc thánh giá, vừa viết vừa đọc những lời sau đây:

1. Đức Ki-tô vẫn là một,
(vẽ đường dọc)

2. Hôm qua cũng như hôm nay,
(vẽ đường ngang)

3. Là An-pha và Ô-mê-ga,
(viết chữ An-pha phía trên thánh giá)

4. Nghĩa là khởi nguyên và tận cùng.
(viết chữ Ô-mê-ga phía dưới thánh giá)

5. Người làm chủ thời gian
(viết số đầu của năm nơi góc trái phía trên thánh giá)

6. Và muôn thế hệ
(viết số thứ hai của năm nơi góc phải phía trên thánh giá)

7. Vạn tuế Đức Ki-tô, Đấng vinh hiển quyền năng,
(viết số thứ ba của năm nơi góc trái phía dưới thánh giá)

8. Vạn vạn tuế. A-men.
(viết số thứ tư của năm nơi góc phải phía dưới thánh giá)

11- Vẽ hình thánh giá và ghi số năm xong, chủ tế có thể cắm năm hạt hương theo hình thánh giá trên nến phục sinh, vừa gắn vừa đọc như sau:

1.Vì năm vết thương
2. chí thánh và vinh hiển,
3. xin Chúa Ki-tô
4. gìn giữ
5. và bảo vệ chúng ta. A-men.

12- Linh mục lấy lửa mới thắp nến phục sinh và nói:

Xin Đức Ki-tô, Đấng phục sinh vinh hiển, chiếu giãi ánh sáng của Người để phá tan bóng tối đang bao phủ lòng trí chúng ta.

Vì hoàn cảnh mục vụ địa phương, có thể sử dụng tất cả hay một phần những điều nói trên (từ số 10 đến số 12). Hội Đồng giám Mục cũng có thể ấn định những hình thức khác thích hợp hơn với tinh thần dân chúng địa phương.

13- Nơi nào không thể đốt lò lửa ngoài nhà thờ được, việc làm phép lửa phải thích nghi với hoàn cảnh. Khi dân chúng tụ họp trong nhà thờ, linh mục đi đến phía cửa chính nhà thờ cùng với các người giúp lễ và người cầm nến phục sinh. Nếu có thể được, giáo dân quay về phía linh mục. Linh mục chào giáo dân và nhắn nhủ đôi lời như ở số 8, rồi làm phép lửa như ở số 9, và nếu muốn thì chuẩn bị và đốt nến phục sinh như ở số 10-13.

KIỆU NẾN PHỤC SINH

14- Phó tế hoặc chính linh mục cầm nến phục sinh nâng cao và hát một mình:
- Ánh sáng Chúa Ki-tô.

Và mọi người thưa:
- Tạ ơn Chúa.

Hội Đồng Giám Mục có thể ấn định lời tung hô khác.

Người cầm nến đi đầu, mọi người theo sau tiến vào nhà thờ. Nếu có hương, người cầm bình hương, có bỏ hương, đi trước người cầm nến phục sinh.

15- Đến trước cửa nhà thờ, người cầm nến phục sinh đứng lại, giơ cao cây nến và hát lần thứ hai:
- Ánh sáng Chúa Ki-tô.

Mọi người thưa:
- Tạ ơn Chúa.

Sau đó mọi người lấy lửa từ nến Phục sinh thắp nến của mình và tiếp tục đi.

16- Khi đến trước bàn thờ, người cầm nến đứng lại, quay về phía giáo dân hát lần thứ ba
-Ánh sáng Chúa Ki-tô.

Mọi người thưa:
-Tạ ơn Chúa.

Đến đây thắp hết các đèn trong nhà thờ.

CÔNG BỐ TIN MỪNG PHỤC SINH

17- Khi đến bàn thờ, đặt nếp Phục Sinh trên giá đèn đã dọn sẵn giữa cung thánh hoặc gần giảng đài; linh mục về ghế, bỏ hương như khi đọc Tin Mừng trong thánh lễ, nếu là phó tế, thì xin linh mục chủ tế ban phép lành, và linh mục nói:

Xin Chúa ngự nơi tâm hồn và môi miệng thầy, để thầy có thể công bố Tin Mừng Phục Sinh của Chúa cho xứng đáng. Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con ? và Chúa Thánh Thần.

Nếu người công bố Tin Mừng Phục Sinh không phải là phó tế thì không xin phép lành.

Phó tế hoặc chính linh mục tùy nghi xông hương sách và nến Phục Sinh, rồi công bố Tin Mừng Phục Sinh tại giảng đài hay giá sách. Mọi người đứng, tay cầm nến sáng.

Do nhu cầu, bài công bố Tin Mừng Phục Sinh cũng có thể do một ca viên không phải là phó tế công bố nhưng bỏ câu: “Vậy giờ đây…” cho đến hết lời kêu gọi, kể cả lời chào: “Chúa ở cùng anh (chị) em”.

18- Công bố Tin Mừng Phục Sinh (bài dài)

Mừng vui lên, hỡi muôn lớp cơ binh Thiên Thần trên trời. Cùng vui lên, hỡi những Nhiệm Mầu thánh này, tiếng loa cứu độ hãy vang rền không gian. Mừng reo chiến công oai hùng: Vua khải hoàn. Và vui lên, toàn trái đất vui lên dưới ánh huy hoàng chiếu soi và dưới ánh sáng Chúa muôn đời chói ngời, tất cả vũ trụ đều hân hoan được ơn thoát ly xa miền tối u sầu. Cùng vui lên, ôi Mẹ Hội Thánh vui lên, uy nghiêm trong muôn ngàn ánh quang, khắp nơi trong cung điện này hòa vang lên ngàn muôn tiếng ca reo mừng của nhân trần. (Hợp nhau đây tôi xin anh chị em rất thân yêu, đang hân hoan tham gia nguồn sáng này, hết tâm kêu xin cùng Chúa uy linh, tha thiết khấn xin lòng Chúa nhân từ. Người dủ thương tôi, tôi dù không có công chi thương cho tôi nhập hàng tư tế Người, khấn xin ban cho tôi đầy ánh quang, để tôi hân hoan ca ngợi cây nến huy hoàng).

(X. Chúa ở cùng anh (chị) em.
T. Và ở cùng (Thầy) Cha.

X. Hãy nâng tâm hồn lên.
Đ. Chúng con đang hướng về Chúa.

X. Hãy tạ ơn Chúa là Thiên Chúa chúng ta.
T. Thật là chính đáng).

Thật chính đáng việc dâng lên tâm tư ca tụng Thiên Chúa Cha, Đấng thiêng liêng toàn năng, cùng Đức Giêsu Kitô Con Một Người Chúa chúng tôi. Ngài thế chúng tôi trả nợ A Đam, với Chúa Cha muôn thuở, và đổ máu quý giá để tẩy sạch án tổ tông xưa. Chính đây là lễ Vượt Qua, mà Chiên thật chịu sát tế nơi cửa nhà dân Chúa đã được ghi dấu máu chiên. Này là đêm mà cha ông chúng tôi, là con cái Israel thoát ly Ai Cập xưa, Chúa đã cho tiến qua Biển Đỏ vẫn khô chân. Chính đây là đêm, nhờ ánh sáng cột lửa thiêng, xua tan bóng đen tội lỗi nhân gian. Đây là đêm mà hôm nay ai tin cậy nơi Chúa Kitô khắp trên trần gian, được cứu thoát hết các vết nhơ và tối tăm tội khiên, được ơn thiêng, đưa về hợp đoàn cùng các thánh nhân. Này là đêm, xiềng xích bị bẻ tung, Đức Kitô ra khỏi ngục vinh thắng tiến lên. Nguồn phúc cứu thế nếu không trao ban, chúng ta sinh ra nào có ích chi? Ôi huyền nhiệm thay, lòng Thiên Chúa yêu trần thế chúng tôi. Tình thương yêu của Chúa không ai hiểu thấu, để cứu đầy tớ, Chúa đã nộp chính Con yêu. Ôi cần thiết thay tội A Đam, tội đã được tẩy xóa chính nhờ sự chết Chúa Kitô. Ôi tội hồng phúc, vì cho chúng ta Đấng Cứu Chuộc rất cao sang. Ôi đêm thật hạnh phúc, chỉ ngươi biết giờ Chúa Kitô từ cõi chết đã vinh thăng. Đây là Đêm mà Sách Thánh đã ghi: Là đêm rực rỡ sáng như bình minh, đêm mà ánh sáng soi cho ta biết bao cảm mến sướng vui. Vì thế sự thánh thiện của đêm nay, xua đuổi hết tội khiên, tẩy sạch vết nhơ người có tội được sạch trong, kẻ ưu phiền sướng vui hân hoan. Phá tan hận thù oán ghét, và sớm đem hòa thuận đồng tâm khuất phục quyền bính thế gian. Kính lạy Cha chí thánh, nguyện xin trong nguồn ơn thánh đêm nay nhận cho hương thơm lễ chiều hôm, là lễ nghi dâng cây nến làm bởi sáp ong tinh tuyền đây, do tay thừa tác viên Giáo Hội cùng kính dâng lên. Giờ đây tôi hiểu biết ý nghĩa của ngọn nến, lung linh sáng lên để Chúa được ngợi chúc tôn vinh. Dù phân chia đi ở khắp nơi cũng không hao mòn chi, luôn nuôi bằng tính chất sáp ong mẹ đã gây nên. Ôi đêm hồng ân, này đêm nối kết trời đất, kết hợp Thiên Chúa với muôn người thế chúng tôi. Nguyện xin cho cây nến này dâng Chúa đây luôn luôn được tỏa sáng, phá tan mọi bóng tối đêm nay. Nguyện cho ngọn nến lung linh hòa với muôn muôn vì sao, luôn được Chúa đoái thương xem như hương trầm ngát thơm bay. Ước mong ngôi sao mai, sẽ gặp gỡ ánh lửa này chiếu sáng luôn. Này đây ngôi sao không bao giờ lặn đi. Chính là Con Chúa, Đức Kitô, Ngôi sao từ nơi tối tăm vượt lên chiếu sáng nhân gian. Người là Đấng thống trị hằng sống đến muôn đời muôn kiếp vinh quang. Amen.

PHẦN THỨ HAI
PHỤNG VỤ LỜI CHÚA

20- Trong đêm Vọng này là mẹ các đêm Vọng, Hội Thánh đề nghị đọc chín bài đọc: bảy bài trích từ Cựu Ước, hai bài trích trong Tân Ước (Thánh Thư và Tin Mừng).

21- Nếu hoàn cảnh mục vụ đòi buộc, có thể bớt số bài đọc Cựu Ước, nhưng phải luôn luôn lưu ý rằng việc đọc Lời Chúa là phần căn bản của đêm Canh Thức Vượt Qua. Phải đọc ít nhất ba bài đọc Cựu Ước và trong trường hợp gấp rút thì đọc ít nhất là hai bài. Nhưng không bao giờ được bỏ bài trích sách Xuất hành chương 14.

22. Mọi người tắt nến, ngồi nghe. Trước khi bắt đầu các bài đọc, linh mục nên nhắn nhủ giáo dân bằng những lời sau đây, hoặc những lời tương tự:

Anh (chị) em thân mến,

Chúng ta đã long trọng khai mạc đêm Canh Thức Vượt Qua, giờ đây chúng ta hãy lắng nghe Lời Chúa.

Chúng ta hãy ngẫm xem trong thời Cựu Ước, Chúa đã cứu chuộc dân Người làm sao, và trong thời đại cuối cùng này, Người lại sai Con Một đến cứu chuộc chúng ta thế nào. Chúng ta hãy xin Chúa hoàn tất công trình cứu độ mà Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Vượt Qua.

23- Sau đó là các bài đọc, người đọc sách đến giảng đài đọc bài đọc 1. Sau bài đọc, hát đáp ca, cộng đoàn hát câu đáp. Rồi mọi người đứng lên, linh mục đọc: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”. Và sau khi mọi người thinh lặng cầu nguyện trong giây lát, linh mục đọc lời nguyện. Thay vì hát đáp ca, có thể giữ thinh lặng thánh. Trong trường hợp này, thì không ngừng lại sau câu: “Chúng ta dâng lời cầu nguyện”.

24- BÀI ĐỌC I (Bài dài) St 1,1-2,2

Chương này không phải là một bài tường thuật lịch sử, hay một bản nghiên cứu khoa khọc về nguồn gốc vũ trụ và loài người. Đây là một bài ca phụng vụ, mượn những quan niệm bình dân thời xưa về vũ trụ, để tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng dùng lời quyền năng và Thần Khí của Ngài mà sáng tạo muôn loài. Đêm nay giáo Hội đọc đoạn văn này để nói rằng: trong mầu nhiệm Vượt Qua, tức là mầu nhiệm tử nạn và phục sinh, Chúa Ki-tô đã khai mào một tạo thành mới còn tốt đẹp hơn nữa. Người đã dùng nước Thánh Tẩy và ơn Thánh Thần, để đưa chúng ta vào tạo thành mới đó.

“Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm thật là tốt đẹp”.

Bài trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thủy Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Đất còn hoang vu trống rỗng, tối tăm bao trùm vực thẳm, và thần trí Thiên Chúa bay sà trên mặt nước.

Thiên Chúa phán: “Hãy có ánh sáng”. Và có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng tốt đẹp, Người phân rẽ ánh sáng khỏi tối tăm. Thiên Chúa gọi ánh sáng là ngày, tối tăm là đêm. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.

Thiên Chúa phán: “Hãy có một vòm trời ở giữa nước, phân rẽ nước với nước”; và Thiên Chúa làm nên vòm trời, và phân rẽ nước phía dưới vòm trời với nước phía trên vòm trời. Và xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi vòm đó là trời. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ hai.

Thiên Chúa phán: “Nước dưới trời hãy tụ lại một nơi, để lộ ra chỗ khô cạn. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa gọi chỗ khô cạn là đất, và Người gọi khối nước là biển. Thiên Chúa thấy tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Đất hãy trổ sinh thảo mộc xanh tươi mang hạt giống; và cây ăn trái phát sinh trái theo giống nó, và trong trái có hạt giống, trên mặt đất. Và đã xảy ra như vậy. Tức thì đất sản xuất thảo mộc xanh tươi mang hạt theo giống nó, và cây phát sinh trái trong có hạt tùy theo loại nó. Và Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ ba.

Thiên Chúa còn phán: “Hãy có những vật sáng trên vòm trời và hãy phân chia ngày và đêm, và trở thành dấu chỉ thời gian, ngày và năm tháng, để soi sáng trên vòm trời và giãi sáng mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã làm nên hai vầng sáng lớn: Vầng sáng lớn hơn làm chủ ban ngày, và vầng sáng nhỏ hơn làm chủ ban đêm; Và Ngài cũng làm nên các tinh tú. Thiên Chúa đặt chúng trên vòm trời để soi sáng trên mặt đất, và làm chủ ngày đêm, và phân chia ánh sáng với tối tăm. Thiên Chúa thấy nó tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ tư.

Thiên Chúa lại phán: “Nước hãy sản xuất những sinh vật bò sát, và loài chim bay trên mặt đất, dưới vòm trời. Vậy Thiên Chúa tạo thành những cá lớn, mọi sinh vật sống động mà nước sản xuất theo loại chúng, và mọi chim bay tùy theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thiên Chúa chúc phúc cho chúng rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy nước biển; loài chim hãy sinh cho nhiều trên mặt đất”. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ năm.

Thiên Chúa lại phán: “Đất hãy sản xuất các sinh vật tùy theo giống: gia súc, loài bò sát và dã thú dưới đất tùy theo loại”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa đã dựng nên dã thú dưới đất tùy theo loại, gia súc, và mọi loài bò sát dưới đất tùy theo giống. Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tùy theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp. Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ sáu.

Thế là trời đất và mọi trang điểm của chúng đã hoàn thành. Ngày thứ bảy Thiên Chúa đã hoàn tất công việc Người đã làm. Và sau khi hoàn tất công việc Người đã làm, thì ngày thứ bảy Người nghỉ ngơi.

Đó là lời Chúa.

Hoặc (Bài ngắn) St 1, 1. 26-31a

Bài trích sách Sáng Thế.

Từ nguyên thủy Thiên Chúa đã tạo thành trời đất. Và Thiên Chúa phán: “Chúng ta hãy dựng nên con người theo hình ảnh giống như Ta, để chúng làm chủ cá biển, chim trời, dã thú khắp mặt đất và tất cả loài bò sát di chuyển trên mặt đất”.

Vậy Thiên Chúa đã tạo thành con người giống hình ảnh Chúa, Chúa tạo thành con người giống hình ảnh Thiên Chúa. Người tạo thành họ có nam có nữ.

Thiên Chúa chúc phúc cho họ và phán rằng: “Hãy sinh sôi nẩy nở cho nhiều, đầy mặt đất, và thống trị nó; hãy bá chủ cá biển, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Thiên Chúa phán: “Đây Ta ban cho các ngươi làm thức ăn mọi thứ cây cỏ mang hạt giống trên mặt đất và toàn thể thảo mộc sinh trái có hạt tùy theo giống. Ta ban mọi thứ cây cỏ xanh tươi làm thức ăn cho mọi loài dã thú trên mặt đất, chim trời và toàn thể sinh vật di chuyển trên mặt đất”. Và đã xảy ra như vậy. Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm rất tốt đẹp.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 32, 4-5. 6-7. 12-13. 20 và 22

Đáp: Địa cầu đầy ân sủng Chúa.

1) Vì lời Chúa là lời chân chính, bao việc Chúa làm đều đáng cậy tin. Chúa yêu chuộng điều công minh chính trực, địa cầu đầy ân sủng Chúa. – Đáp.

2) Do lời Chúa mà trời xanh được tạo thành, và mọi cơ binh chúng đều do hơi thở miệng Người. Chúa thu nước biển lại như để trong bầu, Người đặt những ngọn sóng trong kho chứa đựng.- Đáp.
3) Phúc thay quốc gia mà Chúa là chúa tể, dân tộc mà Chúa chọn làm cơ nghiệp riêng mình. Tự trời cao Chúa nhìn xuống, Người xem thấy hết thảy con cái loài người. – Đáp.

4) Linh hồn chúng tôi mong đợi Chúa, chính Người là Đấng phù trợ và che chở chúng tôi. – Lạy Chúa, xin đổ lòng từ bi xuống trên chúng con, theo như chúng con tin cậy ở nơi Ngài. – Đáp.

Lời nguyện (Chọn một trong hai lời nguyện sau đây)

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, mọi công trình của Chúa thật kỳ diệu phi thường. Xin làm cho chúng con là những kẻ được Chúa cứu chuộc luôn luôn hiểu biết rằng: công trình tạo thành vũ trụ thuở ban đầu tuy đã kỳ diệu, nhưng công trình cứu độ của Đức Ki-tô, Đấng hy sinh làm Chiên lễ Vượt Qua của chúng con trong thời sau hết, còn kỳ diệu hơn nữa. Chúng con cầu xi…

Hoặc:

Lạy Chúa, Chúa đã sáng tạo con người cách lạ lùng, và cứu chuộc còn lạ lùng hơn nữa. Xin ban cho chúng con một tinh thần khôn ngoan sáng suốt, biết chống trả tội lỗi hằng quyến rũ chúng con, để mai sau được hưởng phúc muôn đời. Chúng con cầu xin…

25- BÀI ĐỌC II (Bài dài) St 22, 1-18

Lòng tin của tổ phụ Ap-ra-ham đạt tới điểm cao nhất, khi ông sẵn sàng hiến tế dâng Thiên Chúa đứa con một là I-xa-ác, vì tin rằng Chúa có thể làm cho kẻ chết sống lại, và dù thế nào đi nữa, lời hứa của Chúa cũng sẽ thực hiện. Do đó, ông Ap-ra-ham đã trở thành cha của mọi kẻ tin, của hết thảy chúng ta. Ông I-xa-ác vác củi lên núi cũng tiên báo Đức Kttô, người Con Một mà Thiên Chúa đã không ngần ngại phó nộp, vì yêu thương chúng ta.

“Của lễ hiến tế của Abraham, Tổ phụ chúng ta”.

Bài trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”. Sáng ngày, Abraham dậy sớm, thắng lừa và đem theo hai đứa đầy tớ của ông, cùng với Isaác con ông, ông chẻ củi dùng vào lễ thượng hiến, đoạn ông lên đường đến chỗ Thiên Chúa đã tỏ cho ông.

Ngày thứ ba, Abraham ngước mắt lên và thấy chỗ ấy từ đàng xa. Abraham mới bảo tôi tớ: “Các anh ở lại đây với con lừa; còn ta và đứa trẻ, chúng ta phải đi tới đằng kia mà thờ lạy, rồi chúng tôi sẽ về lại với các anh”. Abraham lấy củi lễ thượng hiến và cho Isaác vác đi, còn ông thì cầm lấy lửa và dao phay, rồi cả hai cùng bước. Isaac cất tiếng nói với Abraham cha cậu rằng: “Cha!” Ông đáp: “Ta đây, con!” Cậu hỏi: “Này đây đã có lửa và củi, vậy hy sinh thượng hiến ở đâu?” Abraham đáp: “Chính Thiên Chúa sẽ tự liệu ra hy sinh thượng hiến, con ạ”. Rồi cả hai cùng bước.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình. Chỗ ấy Abraham gọi tên là “Thiên Chúa sẽ liệu”, khiến ngày nay người ta còn nói: “Trên núi Thiên Chúa sẽ liệu”.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Đó là lời Chúa.

Hoặc (bài ngắn) St 22, 1-2. 9a. 10-13. 15-18

Bài trích sách Sáng Thế.

Trong những ngày ấy, Chúa thử Abraham và nói với ông rằng: “Abraham, Abraham”. Ông đáp lại: “Dạ, con đây”. Chúa nói: “Ngươi hãy đem Isaac, đứa con một yêu dấu của ngươi, và đi đến đất Moria, ở đó ngươi sẽ dâng nó làm của lễ toàn thiêu trên núi Ta sẽ chỉ cho ngươi”.

Khi hai người đến nơi Chúa đã chỉ, Abraham làm một bàn thờ và chất củi lên, rồi trói Isaac lại, đặt lên bàn thờ trên đống củi. Abraham giơ tay lấy dao để sát tế con mình. Bấy giờ thiên thần Chúa từ trời gọi ông rằng: “Abraham! Abraham!” Ông thưa lại: “Dạ, con đây”. Người nói: “Đừng giết con trẻ và đừng động đến nó, vì giờ đây, Ta biết ngươi kính sợ Chúa, đến nỗi không từ chối dâng đứa con duy nhất cho Ta”. Abraham ngước mắt lên, thấy sau lưng mình có con cừu đực đang mắc sừng trong bụi cây, Abraham liền bắt nó và tế lễ thay cho con mình.

Thiên thần Chúa gọi Abraham lần thứ hai và nói rằng: “Chúa phán: Ta thề rằng: vì ngươi đã làm điều đó, ngươi không từ chối dâng đứa con duy nhất của ngươi cho Ta, nên Ta chúc phúc cho ngươi. Ta cho ngươi sinh sản con cái đông đúc như sao trên trời, như cát bãi biển; miêu duệ ngươi sẽ chiếm cửa thành quân địch, và mọi dân tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc nơi miêu duệ ngươi, vì ngươi đã vâng lời Ta”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA: Tv 15, 5 và 8. 9-10. 11

Đáp: Lạy Chúa, xin bảo toàn con, vì con tìm nương tựa Chúa.

1) Chúa là phần gia nghiệp và phần chén của con, chính Ngài nắm giữ vận mạng của con. Con luôn luôn đặt Chúa ở trước mặt con, vì Chúa ngự bên hữu con, con sẽ không nao núng. – Đáp.

2) Bởi thế, lòng con vui mừng và linh hồn con hoan hỉ, ngay cả đến xác thịt của con cũng nằm nghỉ an toàn, vì Chúa chẳng bỏ rơi linh hồn con trong âm phủ, cũng không để thánh nhân của Ngài thấy điều hư nát. – Đáp.

3) Chúa sẽ chỉ cho con biết đường lối trường sinh, sự no đầy hoan hỉ ở trước thiên nhan, sự khoái lạc bên tay hữu Chúa tới muôn muôn đời! – Đáp.

Lời nguyện

Lạy Chúa là Cha nhân từ của các tín hữu, Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham trở thành cha chung các dân tội; và nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, Chúa đã thực hiện lời hứa ấy và ban cho muôn dân khắp địa cầu, hồng ân được làm nghĩa tử khiến đoàn con cái Chúa ngày càng thêm đông. Xin cho những ai đã thuộc về gia đình Chúa, biết ăn ở xứng đáng với ân huệ Chúa ban. Chúa con cầu xin…

26- BÀI ĐỌC III (bắt buộc) Xh 14,15 – 15,1a

Bằng thể văn anh hùng ca, sách Xuất hành quảng diễn và đề cao việc Thiên Chúa giải thoát dân Người, khi Người cho họ đi bộ qua Biển Đỏ. Biến cố này tiên báo cuộc xuất hành mới, mà Thiên Chúa cho chúng ta thực hiện: khi đi qua nước Thánh Tẩy, chúng ta cũng được giải thoát khỏi vòng nô lệ tội lỗi, và được trở thành dân Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta cũng có thể hát bài ca chiến thắng: Vang lên muôn lời ca !

“Con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn”.

Bài trích sách Xuất Hành.

Trong những ngày ấy, Chúa phán cùng Môsê rằng: “Có gì mà kêu đến Ta? Hãy bảo con cái Israel cứ lên đường. Còn ngươi, đưa gậy lên, và giơ tay trên biển, hãy phân rẽ biển ra, cho con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn. Còn Ta, Ta sẽ làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá, chúng sẽ rượt theo sau các ngươi. Bấy giờ Ta sẽ tỏ vinh quang cho Pharaon, toàn thể quân lực, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết. Người Ai-cập sẽ biết Ta là Chúa khi Ta tỏ vinh quang cho Pharaon, chiến xa và kỵ binh của vua ấy biết”.

Sứ thần Thiên Chúa thường đi trước hàng ngũ Israel, liền bỏ trở lại sau họ. Cột mây thường đi phía trước, cũng theo sứ thần trở lại phía sau, đứng giữa hàng ngũ Ai-cập và hàng ngũ Israel. Và đám mây thường soi sáng ban đêm trở thành mù mịt, đến nỗi suốt đêm, hai bên không thể tới gần được. Môsê giơ tay trên biển, thì bằng một cơn gió đông thổi mạnh suốt đêm, Chúa dồn biển lui và làm cho biển khô cạn. Nước rẽ ra và con cái Israel đi vào giữa lòng biển khô cạn, nước dựng lên như bức thành hai bên tả hữu.

Người Ai-cập đuổi theo, toàn thể binh mã của Pharaon, chiến xa và kỵ binh đi theo sau Israel vào giữa lòng biển. Lúc gần sáng, qua cột mây lửa, Chúa nhìn xuống hàng ngũ Ai-cập, gây rối loạn trong hàng ngũ chúng. Người lật đổ bánh xe, khiến xe tiến tới thật vất vả. Người Ai-cập nói: “Ta hãy chạy trốn Israel, vì Chúa chiến đấu giúp họ, chống chúng ta”.

Chúa phán bảo Môsê: “Hãy giơ tay trên biển để nước trở lại vùi dập người Ai-cập, chiến xa và kỵ binh của chúng”. Môsê giơ tay trên biển, và lúc tảng sáng, biển trở lại như cũ. Người Ai-cập chạy trốn, gặp ngay nước biển ập lại. Chúa xô chúng ngã giữa lòng biển. Nước trở lại, vùi dập chiến xa và kỵ binh. Toàn thể quân lực của Pharaon đã theo dân Israel xuống biển, không còn tên nào sống sót. Còn con cái Israel đã đi giữa lòng biển khô cạn, nước dựng như bức thành hai bên tả hữu. Ngày đó Chúa cứu Israel khỏi tay Ai-cập. Và họ thấy xác người Ai-cập trôi dạt đầy bờ, và thấy cánh tay oai hùng của Thiên Chúa đè bẹp Ai-cập. Toàn dân kính sợ Chúa, tin vào Chúa và vào Môsê tôi tớ người.

Bấy giờ Môsê cùng với con cái Israel hát mừng Chúa bài ca này:

(Không đọc: Đó là lời Chúa).

ĐÁP CA Xh 15, 1-2. 3-4. 5-6. 17-18

Đáp: Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao ca.

1) Tôi sẽ ca tụng Chúa, vì Người uy linh cao cả. Người đã ném ngựa và người xuống biển khơi. Chúa là sức mạnh và là khúc ca của tôi, chính Người đã cho tôi được cứu thoát. Người là Thiên Chúa tôi, tôi sẽ tôn vinh Người; Người là Chúa tổ phụ tôi, tôi sẽ hát ca mừng Chúa. – Đáp.

2) Chúa như là người chiến sĩ, danh thánh Người thật toàn năng. Người đã ném xe cộ và đạo binh của Pharaon xuống biển, và dìm xuống Biển Đỏ các tướng lãnh của ông. – Đáp.

3) Các vực thẳm đã chôn sống họ, họ rơi xuống đáy biển như tảng đá to. Lạy Chúa, tay hữu Chúa biểu dương sức mạnh; lạy Chúa, tay hữu Chúa đánh tan quân thù. – Đáp.

4) Chúa đem con cái Israel trồng trên núi gia nghiệp Chúa, nơi vững chắc Chúa làm nơi cư ngụ, ôi lạy Chúa, là cung thánh tay Chúa đã lập nên; Chúa sẽ thống trị muôn đời muôn kiếp. – Đáp.

Lời nguyện (Chọn một trong hai lời nguyện sau đây)

Lạy Chúa, những công trình kỳ diệu Chúa đã làm thuở trước, nay còn như xuất hiện rỡ ràng. Quả vậy, xưa Chúa đã ra oai thần lực cứu một mình dân Ít-ra-en khỏi bàn tay Pha-ra-ôn áp bức. Ngày nay Chúa cũng dùng nước thánh tẩy, để cứu độ muôn dân khắp hoàn cầu. Xin cho mọi người trên thế giới được lòng tin mạnh mẽ như tổ phụ Ap-ra-ham, và đạt tới địa vị làm dân riêng của Chúa. Chúng con cầu xin…

Hoặc:

Lạy Chúa, dưới ánh sáng Tin Mừng, Chúa cho thấy ý nghĩa kỳ công Chúa đã thực hiện trong thời Cựu Ước: Quả vậy, Biển Đỏ tượng trưng cho dòng nước thánh tẩy, còn dân Do thái thoát vòng nô lệ là hình ảnh của dân Chúa ngày nay. Xin cho các dân tộc trên khắp địa cầu nhờ lòng tin vào Chúa, được hưởng những đặc ân của Ít-ra-en, và được tái sinh khi lãnh nhận Thánh Thần. Chúng con cầu xin…

27- BÀI ĐỌC IV Is 54,5-14

Chương 54 sách I-sai-a trích từ sách Yên ủi Ít-ra-en, viết trong thời lưu đầy Ba-by-lon. Dân Ít-ra-en được Chúa coi như bạn trăm năm, nhưng họ đã phải bội. Dầu vậy, tình yêu của Chúa vẫn trung thành và bất diệt, không hề thay đổi. Vì thế Chúa sẽ cho họ trở về, và sẽ xây dựng lại Giê-ru-sa-lem. Đó cũng chính là tình yêu của Chúa đối với chúng ta, nhờ đó mà ta được cứu chuộc.

“Trong tình yêu vĩnh cửu,
Chúa Cứu Chuộc đã xót thương ngươi”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Đấng đã tạo thành ngươi thống trị ngươi, danh Người là Chúa các cơ binh, Đấng Cứu Chuộc ngươi là Đấng Thánh Israel, Người sẽ được tôn xưng là Thiên Chúa khắp địa cầu.

Thiên Chúa ngươi đã phán: “Chúa gọi ngươi như gọi người thiếu phụ bị bỏ rơi và sầu muộn, và như người vợ bị bỏ rơi lúc còn xuân xanh. Trong một thời gian ngắn, Ta đã bỏ ngươi, nhưng Ta sẽ lấy lượng từ bi cao cả mà tụ họp ngươi lại. Trong lúc nóng giận, Ta tạm ẩn mặt Ta, nhưng vì lòng nhân từ vô biên, Ta thương xót ngươi, Chúa là Đấng cứu chuộc ngươi đã phán như vậy.

Cũng như trong thời Noe, Ta đã thề rằng nước lụt Noe sẽ không tràn ngập đất nữa, thì Ta cũng đã thề rằng Ta sẽ không giận ngươi, không quở trách ngươi nữa.

Dù núi có dời, đồi có di chuyển, tình yêu của Ta đối với ngươi không thay đổi, và giao ước bình an của Ta cũng sẽ không lay chuyển, Chúa nhân từ của ngươi đã phán như vậy.

Hỡi thành vô phúc, bị bão táp tàn phá và không ai an ủi, này đây Ta sẽ sắp xếp các viên đá của ngươi cho trật tự, sẽ đặt nền móng ngươi trên ngọc thạch, sẽ lấy đá hồng xây cửa đồn ngươi, sẽ lấy thủy tinh làm cửa thành ngươi, sẽ dùng đá quý xây tường thành ngươi.

Tất cả con cái ngươi sẽ được Chúa dạy bảo, chúng sẽ vui hưởng một nền hòa bình lâu dài. Ngươi sẽ đứng vững trong công lý, và xa mọi đàn áp, ngươi sẽ không còn sợ, và sống xa mọi khủng bố, vì sẽ không có ai hãm hại được ngươi nữa”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 29, 2 và 4. 5-6. 11 và 12a và 13b

Đáp: Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con.

1) Lạy Chúa, con ca tụng Chúa vì đã giải thoát con, và không để quân thù hoan hỉ về con. Lạy Chúa, Ngài đã đưa linh hồn con thoát xa Âm phủ, Ngài đã cứu con khỏi số người đang bước xuống mồ. – Đáp.

2) Các tín đồ của Chúa, hãy đàn ca mừng Chúa, và hãy cảm tạ thánh danh Ngài. Vì cơn giận của Ngài chỉ lâu trong giây phút, nhưng lòng nhân hậu của Ngài vẫn có suốt đời. Chiều hôm có gặp cảnh lệ rơi, nhưng sáng mai lại được mừng vui hoan hỉ.- Đáp.

3) Lạy Chúa, xin nhậm lời và xót thương con. Lạy Chúa, xin Ngài gia ân cứu giúp con. Chúa đã biến đổi lời than khóc thành khúc nhạc cho con; lạy Chúa là Thiên Chúa của con, con sẽ tán tụng Chúa tới muôn đời. – Đáp.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, để đáp lại niềm tin của các tổ phụ, Chúa đã hứa ban cho các ngài một dòng tộc đông đảo. Nay xin thực hiện lời hứa ấy mà làm cho số nghĩa tử ngày càng thêm đông, để mọi người tôn vinh Danh Thánh, và Giáo Hội được thấy thực hiện điều các tổ phụ vẫn tin tưởng đợi chờ. Chúng con cầu xin…

28- BÀI ĐỌC V Is 55,1-11

Lương thực mà Chúa cung cấp miễn phí, tượng trưng cho những hồng ân Chúa ban, vì tình thương của Người. Đặc biệt, đó là Lời Chúa, là nước Thánh Tẩy, là bánh rượu Thánh Thể mà ta nhận được trong giao ước mới, giao ước vĩnh cửu thiết lập nhờ mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Ki-tô.

“Hãy đến cùng Ta và hồn các ngươi sẽ được sống.
Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu”.

Bài trích sách Tiên tri Isaia.

Đây Chúa phán: Hỡi tất cả những ai khát nước, hãy đến uống nước; hỡi kẻ không tiền bạc, hãy đến mua lúa mà ăn; hãy đến mà mua rượu và sữa, không cần trả tiền, không cần đổi chác gì. Tại sao các ngươi không dùng tiền mà mua bánh, sao không dùng tiền lương mà mua đồ nuôi thân? Vậy hãy lắng tai nghe, hãy đến ăn đồ bổ và các ngươi sẽ được thưởng thức món ăn mĩ vị.

Hãy lắng tai và đến cùng Ta, hãy nghe, thì các ngươi sẽ được sống; Ta sẽ ký kết với các ngươi một giao ước vĩnh cửu, đó là những hồng ân đã hứa cho Đavít: Đây Ta đặt ngươi làm nhân chứng cho các dân, làm tướng lãnh tôn sư cho các dân tộc. Này ngươi sẽ kêu gọi dân mà trước ngươi không biết, và các dân trước chưa biết ngươi, sẽ chạy đến cùng ngươi, vì Chúa là Thiên Chúa ngươi, là Đấng Thánh Israel, bởi vì Chúa làm cho ngươi được hiển vinh.

Hãy tìm Chúa khi còn tìm được, hãy kêu cầu Người khi Người còn ở gần. Kẻ gian ác, hãy bỏ đường lối mình, và kẻ bất lương, hãy bỏ những tư tưởng mình, hãy trở về với Chúa, thì Người sẽ thương xót, hãy trở về với Thiên Chúa chúng ta, vì Chúa rộng lòng tha thứ. Vì tư tưởng Ta không phải tư tưởng các ngươi, và đường lối các ngươi không phải đường lối của Ta, Chúa phán như vậy. Như trời cao hơn đất thế nào, thì đường lối Ta vượt trên đường lối các ngươi, và tư tưởng Ta cũng vượt trên tư tưởng các ngươi thể ấy.

Như mưa tuyết từ trời rơi xuống và không trở lên trời nữa, nhưng chúng thấm xuống đất, làm cho đất phì nhiêu, cây cối sinh mầm, cho người gieo có hạt giống, cho người ta có cơm bánh ăn; cũng thế, lời từ miệng Ta phán ra sẽ không trở lại với Ta mà không sinh kết quả, nhưng nó thực hiện ý muốn của Ta, và làm tròn sứ mạng Ta uỷ thác.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Is 12, 2-3. 4bcd. 5-6

Đáp: Các ngươi sẽ hân hoan múc nước nơi suối Đấng Cứu Độ.

1) Đây Thiên Chúa là Đấng Cứu Chuộc tôi, tôi sẽ tin tưởng mà hành động và không khiếp sợ: vì Chúa là sức mạnh, là Đấng tôi ngợi khen, Người sẽ trở nên cho tôi phần rỗi. – Đáp.

2) Hãy ca tụng Chúa và kêu cầu danh Người, hãy công bố cho các dân biết kỳ công của Chúa, hãy nhớ lại danh Chúa rất cao sang. – Đáp.

3) Hãy ca tụng, vì Người làm nên những việc kỳ diệu, hãy cao rao việc đó trên khắp hoàn cầu. Hỡi người cư ngụ tại Sion, hãy nhảy mừng ca hát, vì Đấng cao cả là Đấng Thánh Israel ở giữa ngươi. – Đáp.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, là niềm hy vọng độc nhất của trần gian, Chúa đã dùng lời các ngôn sứ tiên báo những mầu nhiệm đang được thực hiện ngày nay. Xin khơi dậy trong lòng dân Chúa những ước nguyện cao đẹp, vì nếu không có Chúa soi trí mở lòng, chẳng một ai trong chúng con có thể tiến bước trên con đường thánh thiện. Chúng con cầu xin…

29- BÀI ĐỌC VI Br 3,9-15.32-4,4

Lời sách Ba-rúc bảo cho dân Ít-ra-en biết: họ bị lưu đày là vì họ đã bỏ nguồn mạch sự khôn ngoan. Thiên Chúa đã cho Đức Khôn Ngoan đến ở với loài người. Tân Ước cho ta biết: Đức Ki-tô chính là Đức Khôn Ngoan nhập thể, đem sự thật và sự sống đến cho chúng ta. Đức Ki-tô chịu đóng đinh, là điều mà loài người cho là yếu đuối và điên rồ, nhưng người lại tỏ mình là sự khôn ngoan và sức mạnh của Thiên Chúa.

“Ngươi hãy đi trong đường ánh sáng của Chúa”.

Bài trích sách Tiên tri Barúc.

Hỡi Israel, hãy nghe các giới răn ban sự sống; hãy lắng tai nghe để hiểu biết sự khôn ngoan.

Hỡi Israel, bởi đâu ngươi ở trong đất nước quân thù, ngươi mòn mỏi trên đất khách, nhiễm lây nhơ bẩn của người chết, bị liệt vào kẻ phải xuống địa ngục? Ngươi đã lìa bỏ nguồn khôn ngoan. Vì chưng nếu ngươi theo đường lối Chúa,thì ngươi đã luôn sống trong bình an. Ngươi hãy học xem đâu là sự khôn ngoan, đâu là sức mạnh, đâu là sự thông hiểu, để ngươi cũng hiểu biết đâu là trường thọ và sự sống, đâu là ánh sáng con mắt và bình an. Ai là người sẽ tìm được nơi cư ngụ của sự khôn ngoan, ai đi vào trong kho tàng của nó? Chính Đấng thấu suốt mọi sự, Người biết nó: Người thấu suốt nó do đức khôn ngoan của Người.

Người là Đấng đã an bài vũ trụ đến muôn đời, và cho các gia súc và các thú bốn chân sống đầy mặt đất. Người sai ánh sáng đi thì nó đi, gọi nó lại thì nó run sợ vâng lời Người. Các ngôi sao ở vị trí mình mà chiếu sáng và đều vui mừng. Người gọi chúng thì chúng trả lời rằng: “Có mặt”. Chúng vui mừng chiếu sáng trước mặt Đấng sáng tạo chúng.

Người là Thiên Chúa chúng ta, và không có chúa nào khác sánh được với Người. Người đã biết mọi đường lối khôn ngoan, đã ban nó cho Giacóp tôi tớ Người và cho Israel kẻ người yêu mến. Sau đó, Người xuất hiện trên mặt đất và sống giữa loài người.

Đó là sách ghi các giới răn Chúa và lề luật tồn tại muôn đời, tất cả những ai tuân giữ lề luật thì được sống, còn ai bỏ thì phải chết. Hỡi Giacóp, hãy trở về và nắm giữ lề luật; hãy nhờ ánh sáng của Người mà tiến đến sự huy hoàng của Người. Đừng trao vinh quang ngươi cho kẻ khác, cũng đừng trao đặc ân ngươi cho dân ngoại. Hỡi Israel, chúng ta có phúc, vì chúng ta đã được biết những gì là đẹp lòng Chúa.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 18, 8. 9. 10. 11

Đáp: Lạy Chúa, Chúa có lời ban sự sống đời đời.

1) Luật pháp Chúa toàn thiện, bồi bổ tâm linh; chỉ thị Chúa cố định, phá ngu kẻ dốt. – Đáp.

2) Giới răn Chúa chính trực, làm hoan lạc tâm can; mệnh lệnh Chúa trong ngời, sáng soi con mắt. – Đáp.

3) Lòng tôn sợ Chúa thuần khiết, còn mãi muôn đời; phán quyết của Chúa chân thực, công minh hết thảy. – Đáp.

4) Những điều đó đáng chuộng hơn vàng, hơn cả vàng ròng, ngọt hơn mật và hơn cả mật chảy từ tàng ong. – Đáp.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa không ngừng kêu gọi muôn dân gia nhập Hội Thánh Chúa, khiến Hội Thánh ngày thêm phát triển. Xin hằng thương giữ gìn những người đã được ơn tái sinh nhờ bí tích thánh tẩy. Chúng con cầu xin…

30- BÀI ĐỌC VII Ed 36,16-17a.18-28

Vì tội lỗi của mình, dân Chúa đang phải sống lưu vong tản mác giữa các dân ngoại. Nhưng Thiên Chúa không quên giao ước của Người, Người hứa sẽ quy tụ họ về, thanh tẩy họ, ban cho họ một trái tim mới, đặt Thần Khí của Người trong họ. Chúa Ki-tô phục sinh thực hiện hoàn toàn lời hứa đó: Người kêu gọi ta từ khắp muôn dân, dội nước Thánh Tẩy trên ta, để tha tội và ban ơn Thánh Thần, nhờ đó ta được một trái tim mới, để có thể gọi Thiên Chúa là Cha.

“Ta sẽ đổ trên các ngươi nước trong sạch
và sẽ ban cho các ngươi quả tim mới”.

Bài trích sách Tiên tri Êdêkiel.

Đây lời Chúa phán cùng tôi rằng: “Hỡi con người, khi dân Israel cư ngụ trên đất mình, họ đã làm dơ bẩn đất ấy bằng đời sống và việc làm của họ. Và Ta đã nổi giận họ, vì họ đã đổ máu trên phần đất ấy, và vì các thần tượng họ thờ làm dơ bẩn phần đất ấy. Ta đã phân tán họ đi khắp các dân tộc, và cho họ sống rải rác trong các nước; Ta đã xét xử theo đời sống và việc làm của họ. Họ đã đi đến các dân tộc và ở đó họ xúc phạm thánh danh Ta, vì thiên hạ nói về họ rằng: “Này là dân của Chúa, họ bị đuổi ra khỏi đất của Người”. Và Ta đã thương hại thánh danh Ta mà nhà Israel đã xúc phạm nơi các dân tộc họ đến cư ngụ.

Vì thế, ngươi hãy nói với nhà Israel rằng: “Đây Chúa là Thiên Chúa phán: Hỡi nhà Israel, không phải vì các ngươi mà Ta hành động, nhưng vì thánh danh Ta đã bị các ngươi xúc phạm nơi các dân tộc mà các ngươi đi đến cư ngụ. Ta sẽ thánh hóa danh cao cả Ta đã bị xúc phạm giữa các dân tộc, nơi mà các ngươi đã xúc phạm danh thánh Ta, để các dân tộc biết Ta là Chúa, Thiên Chúa các đạo binh phán, khi Ta tự thánh hóa nơi các ngươi trước mặt họ.

Ta sẽ kéo các ngươi ra khỏi các dân tộc, sẽ quy tụ các ngươi từ các nước, và dẫn dắt các ngươi trên đất các ngươi. Ta sẽ dùng nước trong sạch mà rảy trên các ngươi, và các ngươi sẽ được rửa sạch mọi vết nhơ. Ta sẽ thanh tẩy các ngươi sạch mọi vết nhơ các bụt thần.

Ta sẽ ban cho các ngươi quả tim mới, đặt giữa các ngươi một thần trí mới, cất khỏi xác các ngươi quả tim bằng đá và ban cho các ngươi quả tim bằng thịt. Ta đặt thần trí Ta giữa các ngươi, làm cho các ngươi thực thi các huấn lệnh Ta, làm cho các ngươi tuân giữ và thực hành các lề luật Ta. Các ngươi sẽ cư ngụ trong xứ Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi; các ngươi sẽ là dân Ta, còn Ta, Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”.

Đó là lời Chúa.

ĐÁP CA Tv 41, 3. 5bcd; Tv 42, 3. 4

Đáp: Như nai rừng khát mong nguồn nước, hồn con khát Chúa, Chúa Trời ôi!

1) Hồn con khát Chúa Trời, Chúa Trời hằng sống: ngày nào con được tìm về ra mắt Chúa Trời? – Đáp.

2) Tôi nhớ lúc xưa đi giữa muôn người, tôi đứng đầu đưa dân tiến vào nhà Đức Chúa Trời, giữa muôn tiếng reo mừng, ca ngợi.- Đáp.

3) Xin chiếu giãi quang minh và chân thực của Chúa, để những điều đó hướng dẫn con, đưa con lên núi thánh và cung lâu của Ngài. – Đáp.

4) Con sẽ tiến tới bàn thờ Thiên Chúa, đến cùng Thiên Chúa làm cho con được hoan hỉ mừng vui. Với cây cầm thụ, con sẽ ca ngợi Chúa, ôi Chúa là Thiên Chúa của con. – Đáp.

Hoặc (khi có Rửa tội) Tv 50, 12-13. 14-15. 18-19

Đáp: Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch.

1) Ôi lạy Chúa, xin tạo cho con quả tim trong sạch, và canh tân tinh thần cương nghị trong người con. Xin đừng loại con khỏi thiên nhan Chúa, chớ thu hồi Thánh Thần Chúa ra khỏi con. – Đáp.

2) Xin Chúa lại cho con niềm vui ơn cứu độ, với tinh thần quảng đại, Chúa đỡ nâng con. Con sẽ dạy kẻ bất nhân đường nẻo Chúa, và người tội lỗi sẽ trở về với Ngài. – Đáp.

3) Bởi vì Chúa chẳng ưa gì sinh lễ, nếu con dâng lễ toàn thiêu, Chúa sẽ không ưng. Của lễ con dâng, lạy Chúa, là tâm hồn tan nát; lạy Chúa, xin đừng chê tấm lòng tan nát, khiêm cung. – Đáp.

Lời nguyện (Chọn một trong ba lời sau đây)

Lạy Chúa là sức mạnh thường hằng bất biến, là ánh sáng tồn tại muôn đời, xin đoái nhìn toàn thể Hội Thánh và dùng Hội Thánh như bí tích kỳ diệu, để hoàn tất công trình cứu độ muôn dân. Ước chi cả thế giới nghiệm thấy và nhìn nhận rằng: vạn vật suy vong đã được trỗi dậy, muôn loài già cỗi được đổi mới và hết thảy được phục hồi nguyện vẹn như xưa, nhờ chính Đức Ki-tô là căn nguyên tất cả. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

Hoặc:

Lạy Chúa, Chúa dùng lời Kinh Thánh, giúp chúng con chuẩn bị tâm hồn mừng đại lễ Vượt Qua. Xin cho chúng con được thâm hiểu lòng nhân hậu của Chúa đối với chúng con, để những hồng ân Chúa ban tặng ở đời này, giúp chúng con vững vàng tin tưởng sẽ được Chúa ban muôn phúc lộc đời sau. Chúng con cầu xin…

Hoặc: (Khi có người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy)

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin ngự đến tác động trong những bí tích chúng con sắp cử hành đây, là những bí tích chứng tỏ tình yêu Chúa. Xin ban Thánh Thần cho những anh chị em sắp được tái sinh nhờ bí tích thánh tẩy, để họ trở thành con cái Chúa. Như vậy, công việc phục vụ của chúng con, mặc dầu khiêm tốn, cũng được nên hữu hiệu, nhờ chính sức mạnh của Chúa. Chúng con cầu xin…

31- Sau bài đọc cuối cùng trích Cựu Ước cùng với đáp ca và lời nguyện thì đốt nến trên bàn thờ và linh mục xướng kinh Vinh Danh. Mọi người cùng đọc hay hát tiếp. Trong lúc đó kéo chuông hoặc đánh chiêng trống, tùy theo thói quen địa phương.

32- Sau kinh Vinh Danh, linh mục đọc lời nguyện nhập lễ như thường lệ:

Lời nguyện nhập lễ

Lạy Chúa, Chúa đã dùng ánh vinh quang của Đức Ki-tô sống lại, làm cho đêm thánh này rực sáng. Xin cử Thánh Thần đến đổi mới, và làm cho chúng con thêm lòng hiếu thảo để phục vụ Chúa tận tình. Chúng con cầu xin…

Rồi người đọc sách đọc bài Thánh thư.

33- BÀI THÁNH THƯ Rm 6,3-11

Đây là một trong những đoạn văn căn bản về Bí tích Thánh Tẩy. Thánh Phao-lô nói: trong phép rửa, chúng ta được liên kết với mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Ki-tô. Thật vậy, khi được dìm vào nước Thánh Tẩy, ta cùng chết, cùng được mai táng với Đức Ki-tô; và khi ra khỏi nước, ta cùng sống lại với Người và bước vào cuộc sống mới.

“Chúa Kitô, một khi tự trong cõi chết sống lại,
Người không chết nữa”.

Bài trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Rôma.

Anh em thân mến, tất cả chúng ta đã chịu phép rửa trong Đức Giêsu Kitô, tức là đã chịu phép rửa trong sự chết của Người. Và chúng ta đã cùng chịu mai táng với Người, bởi được thanh tẩy trong sự chết của người, để như Đức Kitô nhờ vinh hiển của Chúa Cha mà sống lại từ cõi chết thế nào, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế.

Vì nếu chúng ta được liên kết với Người trong cùng một cái chết, giống như cái chết của Người, thì chúng ta cũng được hợp nhất với Người, trong sự sống lại giống như vậy. Nên biết điều này: con người cũ của chúng ta đã cùng chịu đóng đinh khổ giá, để xác thịt tội lỗi bị hủy đi, hầu cho chúng ta không còn làm nô lệ tội lỗi nữa, vì con người đã chết, tức là được giải thoát khỏi tội lỗi.

Mà nếu chúng ta đã chết với Đức Kitô, chúng ta tin rằng chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người, vì biết rằng Đức Kitô, một khi từ cõi chết sống lại, Người không chết nữa, sự chết không còn làm chủ được Người nữa. Người đã chết, tức là chết một lần dứt khoát đối với tội lỗi, mà khi Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Cả anh em cũng thế, anh em hãy tự kể như mình đã chết đối với tội lỗi, nhưng sống cho Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Đó là lời Chúa.

34- Sau bài Thánh thư, mọi người đứng lên. Linh mục, nếu cần thì phó tế hoặc ca viên giúp, long trọng xướng Ha-lê-lui-a và mọi người lặp lại. Hát ba lần, mỗi lần lên giọng cao hơn. Giáo dân đáp theo giọng được xướng. Rồi ca viên hát thánh vịnh đáp ca và dân chúng thát Ha-lê-lui-a đáp lại.

ĐÁP CA: Tv 117, 1-2. 16ab-17. 22-23

Đáp: Alleluia, alleluia, alleluia.

1) Hãy cảm tạ Chúa, vì Chúa hảo tâm, vì đức từ bi của Người muôn thuở. Hỡi nhà Israel, hãy xướng lên: “Đức từ bi của Người muôn thuở”. – Đáp.

2) Tay hữu Chúa đã hành động mãnh liệt, tay hữu Chúa đã cất nhắc tôi lên. Tôi không chết, nhưng tôi sẽ sống, và tôi sẽ loan truyền công cuộc của Chúa. – Đáp.

3) Phiến đá mà những người thợ xây loại bỏ, đã biến nên tảng đá góc tường. Việc đó đã do Chúa làm ra, việc đó kỳ diệu trước mắt chúng ta. – Đáp.

35- Khi đọc Tin Mừng, không mang đèn nến, nhưng nếu có xông hương thì mang bình hương mà thôi

TIN MỪNG NĂM A Mt 28,1-10

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ mang dầu thơm ra mộ, nhưng không thấy thi hài Đức Giê-su. Các bà được sứ giả của Thiên Chúa cho biết là Đức Giê-su đã phục sinh, và được sai đi báo tin cho các môn đệ.

“Ngài đã sống lại và sẽ đến xứ Galilêa”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Qua chiều ngày Sabbat, khi ngày thứ nhất trong tuần vừa tảng sáng, Maria Mađalêna và bà Maria khác đến thăm mồ. Bỗng chốc đất chuyển mạnh vì Thiên Thần Chúa từ trời xuống và đến lăn tảng đá ra, rồi ngồi lên trên đó. Mặt Người sáng như chớp và áo Người trắng như tuyết. Vì thế những lính canh khiếp đảm run sợ và hầu như chết. Nhưng Thiên Thần lên tiếng và bảo các người nữ rằng: “Các bà đừng sợ. Ta biết các bà tìm Chúa Giêsu, Người đã chịu đóng đinh. Người không có ở đây vì Người đã sống lại như lời Người đã nói. Các bà hãy đến mà coi nơi đã đặt Người và đi ngay bảo các môn đệ Người rằng: Người đã sống lại, và kìa Người đến xứ Galilêa trước các ông: Ở đó các ông sẽ gặp Người. Đây Ta đã báo trước cho các bà hay”.

Hai bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng, chạy báo tin cho các môn đệ Người. Và này Chúa Giêsu đón gặp các bà, Người nói: “Chào các bà”. Các bà liền lại gần ôm chân Người và phục lạy. Bấy giờ Chúa Giêsu bảo: “Các bà đừng sợ. Hãy đi báo tin cho các anh em Ta phải trở về Galilêa, rồi ở đó, họ sẽ gặp Ta”.

Đó là lời Chúa.

TIN MỪNG NĂM B Mc 16, 1-8

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ mang dầu thơm ra mộ, nhưng không thấy thi hài Đức Giê-su. Các bà được sứ giả của Thiên Chúa cho biết là Đức Giê-su đã phục sinh, và được sai đi báo tin cho các môn đệ.

“Đức Giêsu Nadarét chịu đóng đinh, đã sống lại”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Marcô.

Hết ngày Sabbat, bà Maria Mađalêna, bà Maria, mẹ ông Gia-côbê và bà Salômê mua thuốc thơm để đi xức xác Chúa Giêsu. Và từ sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, khi mặt trời hé mọc, các bà đến mồ, họ bảo nhau: “Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mồ cho chúng ta?” Khi đưa mắt nhìn, các bà thấy tảng đá đã được lăn ra bên cạnh. Mà tảng đá đó rất lớn. Các bà đi vào trong mồ, thấy một thanh niên ngồi bên phải, mặc áo dài trắng nên các bà khiếp sợ. Nhưng người đó bảo các bà rằng: “Các bà đừng sợ: Các bà đi tìm Chúa Giêsu Nadarét chịu đóng đinh, nhưng Người đã sống lại, không còn ở đây nữa. Đây là chỗ người ta đã đặt Người. Các bà hãy nói với các môn đệ Người, nhất là với Phêrô rằng: Người đến xứ Galilêa trước các ông. Ở đó các ông sẽ thấy Người như Người đã từng nói trước”. Nhưng các bà chạy ra khỏi mồ trốn đi, run rẩy kinh hồn chẳng dám nói gì với ai vì sợ hãi.

Đó là lời Chúa.

TIN MỪNG NĂM C Lc 24,1-12

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, các phục nữ mang dầu thơm ra mộ, nhưng không thấy thi hài Đức Giê-su. Các bà được sứ giả của Thiên Chúa cho biết là Đức Giê-su đã phục sinh, và được sai đi báo tin cho các môn đệ.

“Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết?”

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.

Ngày thứ nhất trong tuần, vừa tảng sáng, các bà đi ra mồ mang theo những thuốc thơm đã dọn sẵn. Thấy hòn đá đã lăn ra khỏi mồ, nhưng bước vào, các bà không thấy xác Chúa Giêsu. Đang khi các bà còn ngơ ngác không hiểu việc đó, thì có hai người đứng gần các bà, y phục sáng chói. Các bà kinh hãi cắm mặt xuống đất, thì hai người lên tiếng bảo: “Tại sao các bà tìm người sống nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây. Người đã sống lại, các bà hãy nhớ lại Người đã nói với các bà thế nào khi Người còn ở xứ Galilêa. Người đã nói: Con Người phải bị nộp vào tay những kẻ tội lỗi, bị đóng đinh vào thập giá và ngày thứ ba sẽ sống lại”. Và các bà nhớ lại những lời Người đã nói.

Bỏ mồ đi về, các bà tường thuật lại tất cả sự việc cho mười một Tông đồ và các người khác. Các bà đó là Maria Mađalêna, Gioanna, Maria mẹ Giacôbê; và những người nữ khác cùng đi với họ cũng nói như vậy với các tông đồ. Nhưng những lời đó, các ông cho là truyện vớ vẩn, nên các ông không tin. Dầu vậy Phêrô cũng đứng dậy chạy ra mồ, nhưng khi cúi xuống nhìn, ông chỉ thấy những khăn liệm nằm đó và ông trở về nhà, rất đỗi ngạc nhiên về sự đã xảy ra.

Đó là lời Chúa.

36- Sau bài Tin Mừng có diễn giảng. Sau đó cử hành phụng vụ Thánh Tẩy.

PHẦN THỨ BA
PHỤNG VỤ THÁNH TẨY

37- Linh mục cùng các người giúp lễ đi đến giếng rửa tội, nếu giếng này ở trước mặt giáo dân. Nếu không thì đặt một lu nước ở cung thánh.

Nếu có những người dự tòng thì kêu gọi họ đến cùng với những người đỡ đầu, đưa tới trước mặt cộng đoàn. Nếu là trẻ em, thì cha mẹ dẫn, hoặc ẵm đến cùng với những người đỡ đầu.

38- Lời chủ tế nhắn nhủ

Linh mục khuyên bảo cộng đoàn hiện diện những lời sau đây hoặc những lời khác tương tự:

Anh (chị) em thân mến,
Chúng ta hãy hợp ý cầu nguyện cho các anh (chị) em dự tòng này được vững lòng trông cậy.
Xin Chúa Cha toàn năng thương tình nâng đỡ và dẫn đưa họ tới nguồn nước tái sinh.
Nếu không có người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy thì nói:

Anh (chị) em thân mến,

Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa là Cha toàn năng thánh hóa nước này, để những ai nhờ nước này mà được tái sinh, cũng được hợp đoàn với con cái Chúa trong Đức Kitô.

39- Hai ca viên hát kinh cầu. Mọi người đứng (vì là mùa Phục Sinh) và đáp lại.

Kinh cầu có thể hát đang khi đi kiệu, nếu đường dài. Trong trường hợp này, phải mời cả những người sắp lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy cùng đi kiệu. Khi đi kiệu, người cầm nến Phục Sinh đi đầu, tiếp đó là những dự tòng cùng các người đỡ đầu, rồi đến linh mục và những người giúp lễ. Trước khi làm phép nước, linh mục nói những lời khuyên bảo như ở số 38.

40- Nếu không có những người dự tòng và cũng không làm phép giếng, thì bỏ kinh cầu và tiến hành việc làm phép nước ngay (số 45).

41- Trong kinh Cầu Các Thánh, có thể thêm ít tên các thánh, nhất là các thánh bổn mạng nhà thờ, bổn mạng của địa phương và bổn mạng của những người sắp lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy.

Kinh Cầu Các Thánh.

X. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
X. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con.
X. Xin Chúa thương xót chúng con.
Đ. Xin Chúa thương xót chúng con.
X. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời.
Đ. Cầu cho chúng con.
X. Thánh Micae tổng lãnh thiên thần.

Các thiên sứ của Chúa.
Thánh Gioan tẩy giả.
Thánh Giuse.
Thánh Phêrô và thánh Phaolô.
Thánh Anrê
Thánh Gioan
Thánh nữ Maria Mađalêna
Thánh Têphanô
Thánh Inhaxiô Antiôkia
Thánh Lôrenxô
Thánh nữ Pepêtua và thánh nữ Phêlixita.
Thánh nữ Annê
Thánh Ghêgôriô
Thánh Âutinh
Thánh Athanaxiô
Thánh Baxiliô
Thánh Máctinô
Thánh Biển Đức
Thánh Phanxicô và thánh Đaminh
Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu
Thánh Phanxicô Xaviê
Thánh Gioan Maria Vianê
Thánh nữ Catarina Xiêna
Thánh nữ Têrêxa Giêsu
Các thánh Tử Đạo Việt Nam
Các thánh Nam Nữ của Thiên Chúa

X. Lạy Chúa xin tỏ lòng nhân hậu,
Đ. Xin Chúa giải thoát chúng con.
X. Xin giải thoát chúng con khỏi mọi sự dữ,
Xin giải thoát chúng con khỏi vòng tội lỗi,
Xin giải thoát chúng con khỏi án chết đời đời,
Vì Chúa đã xuống thế làm người,
Vì Chúa đã chịu chết và sống lại,
Vì Chúa đã đổ ơn Thánh Thần xuống,
Chúng con là kẻ tội lỗi,
Đ. Xin Chúa nghe lời chúng con.

Nếu có những người sắp nhận bí tích Thánh Tẩy:
Xin Chúa thương dùng phép Thánh Tẩy mà ban ơn tái sinh cho những người được tuyển chọn đây.

Nếu không có ai lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy:
Xin Chúa thương thánh hóa nước này, để nhờ đó, nhiều người được tái sinh mà trở thành con cái Chúa

X. Lạy Chúa Giêsu Con Chúa Trời hằng sống
Đ. Xin Chúa nghe lời chúng con.
X. Lạy Chúa Kitô, xin Chúa nghe lời chúng con.
Đ. Lạy Chúa Kitô, xin Chúa nghe lời chúng con.
X. Lạy Chúa Kitô, xin Chúa nhận lời chúng con.
Đ. Lạy Chúa Kitô, xin Chúa nhận lời chúng con.

LÀM PHÉP NƯỚC

42- Niếu có người sắp lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, linh mục dang tay đọc lời nguyện sau đây:

Lạy Chúa, Chúa dùng quyền năng vô hình, mà làm cho các bí tích trở nên hữu hiệu lạ lùng. Và qua dòng lịch sử cứu độ, Chúa đã bao lần dùng nước do chính Chúa tạo thành, để bày tỏ hiệu năng của phép Thánh Tẩy. Quả vậy, ngay từ lúc vũ trụ khởi nguyên, Thánh Thần Chúa đã bay là là trên mặt nước, để từ đó nước hàm chứa năng lực thánh hóa muôn loài.

Chúa lại dùng nước hồng thủy, làm hình ảnh tiên báo Phép Rửa ban ơn tái sinh, vì thời đó cũng như bây giờ, nước biểu thị quyền năng Chúa, vừa tiêu diệt tội lỗi, vừa khai mở một đời sống mới.

Chúa đã giải thoát con cháu ông Abraham khỏi vòng nô lệ mà dẫn qua biển đỏ ráo chân, để họ tượng trưng cho một dân tộc mới, là những người được thanh tẩy sau này. Và sau hết, khi đến thời đến buổi, chính Con Một Chúa đã lãnh nhận phép rửa của thánh Gioan trong dòng nước sông Giođan, và được Chúa Thánh Thần ngự xuống trên mình, lúc bị treo trên thập giá, Người đã để cho máu cùng nước từ cạnh sườn chảy ra. Và sau khi sống lại Người đã truyền cho các môn đệ rằng: “Anh em hãy đi giảng dạy và làm phép rửa cho muôn dân, nhân danh Cha, và Con, và Thánh Thần”. Vậạy giờ đây, lạy Chúa, xin thương nhìn đến Giáo hội và khơi lên giữa lòng Giáo hội nguồn nước thanh tẩy.

Xin cho dòng nước này được thấm nhuần Thần Khí của Đức Kitô, để nhân loại Chúa đã dựng nên theo hình ảnh Chúa, được thanh tẩy khỏi vết nhơ con người cũ, và tái sinh làm người mới nhờ nước và Thánh Thần.

Linh mục tùy nghi nhúng cây nến phục sinh vào nước một hoặc ba lần và đọc:

Lạy Chúa, nhờ công ơn Con Một Chúa, xin cho nước này đầy tràn sức mạnh của Chúa Thánh Thần, để những ai được dìm trong nước thánh tẩy này, nghĩa là cùng chết và chịu mai táng với Đức Kitô, thì cũng được sống lại với Người để hưởng phúc trường sinh. Người hằng sống và hiển trị muôn đời.

43- Trong lúc linh mục lấy nến phục sinh ra khỏi nước thì giáo dân tung hô bằng lời sau đây hoặc lời tương tự:

Lời tung hô

Chúc tụng Chúa đi, suối mạch nước tràn đầy,
Muôn ngàn đời, hãy ca tụng suy tôn.

Nếu không làm phép thánh tẩy trong đêm canh thức, thì tiếp theo bằng nghi thức lặp lại lời cam kết khi chịu phép rửa. Xem số 46.

Phép Thánh Tẩy và Thêm Sức

44- Các người dự tòng, từng người một, tuyên bố từ bỏ ma quỷ, tuyên xưng đức tin và được thanh tẩy. Trường hợp các dự tòng là người lớn, thì ngay sau khi được thanh tẩy họ được lãnh bí tích Thêm Sức.

Thánh hóa nước

45- Nếu không có ai lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, cũng không phải làm phép giếng rửa tội, linh mục đọc lời nguyện làm phép nước như sau:

Lời chủ tế hướng dẫn

Anh (chị) em thân mến,

Giờ đây chúng ta cầu xin Chúa thánh hóa nước này, để chúng ta rảy trên mình mà nhớ lại bí tích Thánh Tẩy ta đã lãnh nhận. Cúi xin Chúa đổi mới chúng ta, giúp chúng ta luôn trung thành sống theo ơn Thánh Người đã ban.

Linh mục dừng lại, thinh lặng cầu nguyện trong giây lát, rồi dang tay đọc tiếp:

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, trong đêm cực thánh này, chúng con là dân Chúa, đang họp nhau canh thức cầu nguyện, để tưởng nhớ công ơn Chúa đã sáng tạo chúng con cách lạ lùng, và cứu chuộc còn lạ lùng hơn nữa. Xin Chúa thương nhận lời chúng con và thánh hóa nước này do chính Chúa đã dựng nên, để làm cho ruộng đất phì nhiêu mầu mỡ, cho thân xác con người được sạch sẽ và thoải mái. Và trải qua lịch sự cứu độ, nước thiên nhiên đã trở nên khí cụ của tình thương hải hà: Quả vậy, Chúa dùng nước Biển Đỏ cứu dân riêng khỏi vòng nô lệ, và làm vọt lên giữa sa mạc khô cằn một nguồn nước cho dân giải khát. Các ngôn sứ cũng dùng hình ảnh nước mạch tuôn trào, để tiên báo Chúa sẽ lập giao ước mới với loài người chúng con. Và sau hết, khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa đã thánh hóa nước trong lành, để thanh tẩy con người tội lỗi chúng con, và cho chúng con được tái sinh nên con người mới. Vậy giờ đây, khi chúng con rảy nước thánh trên mình, để nhớ lại bí tích Thánh Tẩy chúng con đã lãnh nhận, xin Chúa cho tất cả chúng con được chia sẻ niềm vui với anh chị em chịu phép Thánh Tẩy trong mùa Vượt Qua này, Chúng con cầu xin…

LẶP LẠI LỜI TUYÊN HỨA
KHI LÃNH NHẬN BÍ TÍCH THÁNH TẨY

46. Làm phép Thánh Tẩy và Thêm sức xong, hoặc nếu không, thì sau khi thánh hóa nước, mọi người đứng cầm nến cháy trong tay, lặp lại lời tuyên xưng đức tin khi lãnhnhận bí tích Thánh Tẩy.

Linh mục nói với giáo dân những lời sau đây hoặc những lời tương tự:

Anh (chị) em thân mến,

Nhờ mầu nhiệm Vượt Qua, chúng ta được mai táng với Đức Kitô trong bí tích Thánh Tẩy, để được cùng Người sống đời sống mới. Bởi thế, giờ đây, thời gian thanh luyện của Mùa Chay đã kết thúc, chúng ta cùng nhau lặp lại những điều đã tuyên hứa khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy: là từ bỏ Satan với tất cả những gì thuộc về nó, và trung thành phụng sự Chúa trong Hội thánh Công Giáo.

Linh mục lựa chọn một trong hai công thức sau đây:

CÔNG THỨC I

Linh mục
Vậy anh (chị) em có từ bỏ Satan không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

Linh mục
Anh (chị) em có từ bỏ mọi hành vi do Satan xúi giục không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

Linh mục
Anh (chị) em có từ bỏ những quyến rũ của Satan không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

CÔNG THỨC II

Linh mục
Để sống cho xứng là con cái tự do của Thiên Chúa, anh (chị) em có từ bỏ tội lỗi không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

Linh mục
Để khỏi làm nô lệ tội lỗi, anh (chị) em có từ bỏ những quyến rũ gian tà không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

Linh mục
Anh (chị) em có từ bỏ Satan là đầu mối gây ra mọi tội ác không?

Cộng đoàn
Thưa từ bỏ.

Hội Đồng Giám Mục có thể thích nghi công thức thứ hai này tùy theo hoàn cảnh địa phương. Linh mục nói tiếp:

Linh mục
Anh (chị) em có tin kính Thiên Chúa là Chúa Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất không?

Cộng đoàn
Thưa tin.

Linh mục
Anh (chị) em có tin kính Đức Giêsu Kitô là Con Một của Chúa Cha và là Chúa chúng ta, đã được Đức Trinh Nữ Maria sinh ra, đã chịu khổ hình và mai táng, đã từ cõi chết sống lại và đang ngự bên hữu Chúa Cha không?

Cộng đoàn
Thưa tin.

Linh mục
Anh (chị) em có tin kính Chúa Thánh Thần, tin kính Giáo hội thánh thiện và công giáo, tin mầu nhiệm hiệp thông trong dân thánh, tin có ơn tha tội, tin xác phàm sẽ sống lại, và tin có sự sống đời đời không?

Cộng đoàn
Thưa tin.

Rồi linh mục kết thúc:
Thiên Chúa toàn năng là Cha Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã giải thoát chúng ta khỏi vòng tội lỗi, và cho chúng ta được tái sinh nhờ nước và Thánh Thần. Nguyện xin Người ban ơn gìn giữ chúng ta luôn kết hiệp với Đức Kitô, để được sống muôn đời.

Cộng đoàn
Amen.

47- Linh mục rảy nước thánh trên giáo dân, trong lúc đó mọi người hát:

Tôi đã thấy dòng nước
Từ cửa đông đền thờ tuôn ra. Hallêluia.
Và tất cả những người được nước ấy thanh tẩy
Đều hưởng ơn cứu độ,
Và cất tiếng reo mừng: Hallêluia, Hallêluia.

Hoặc một bài thánh ca khác diễn tả được đặc tính của bí tích Thánh Tẩy.

48- Trong lúc đó, những người tân tòng được đưa về chỗ giữa cộng đoàn các tín hữu.

Nếu không làm phép nước thánh tẩy ở giếng rửa tội, thì những người giúp lễ khiêng lu nước đến đó.

Nếu không làm phép giếng rửa tội, thì nước thánh được đưa đến nơi xứng hợp.

49- Sau khi rảy nước thánh, linh mục về ghế chủ tọa, không đọc kinh Tin .Kính. Đọc lời nguyện giáo dân. Đây là lần đầu tiên những người tân tòng tham dự lời nguyện này, nên dành phần tích cực cho họ.

PHẦN THỨ TƯ
PHỤNG VỤ THÁNH THỂ

50- Linh mục tiến tới bàn thờ và bắt đầu phần phụng vụ Thánh Thể như thường lệ.

51- Nên để cho các tân tòng dâng bánh rượu.

52- Lời nguyện tiến lễ

Lạy Chúa, xin thương nhận lời cầu và của lễ chúng con dâng tiến Chúa, để lễ tế này, khơi nguồn từ mầu nhiệm Vượt Qua, trở nên thần dược đem lại cho chúng con sức sống muôn đời. Chúng con cầu xin…

53- Lời Tiền Tụng Phục Sinh I

Lạy Cha, chúng con tuyên xưng Cha mọi lúc, và hân hoan ca tụng Cha vinh hiển, nhất là trong đêm này, thật là chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con, khi Đức Kitô tự hiến tế làm Chiên Vượt Qua của chúng con.

Chính Người là Chiên thật đã xóa tội trần gian. Người đã chết để diệt trừ sự chết nơi chúng con, và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng con.

Vì thế, toàn thể nhân loại trên khắp địa cầu, lòng tràn ngập niềm vui ngày Chúa sống lại, đều mừng rỡ hân hoan. Đồng thời cả triều thần thiên quốc hát bài ca chúc tụng Cha vinh hiển, và không ngừng tung hô rằng:

Thánh ! Thánh ! Chí Thánh !

Khi dùng kinh Tạ Ơn I, thì đọc kinh “Cùng hiệp thông” và kinh “Vậy lạy Cha” riêng.

54- Ca hiệp lễ 1 Cr 5,7-8

Đức Kitô đã chịu sát tế
Làm Chiên lễ Vượt Qua của chúng ta.
Vậy chúng ta hãy dùng bánh không men
Là lòng chân thật và tinh tuyền
Để ăn mừng đại lễ. Hallêluia.

55- Lời Nguyện Hiệp Lễ

Lạy Chúa, Chúa đã dùng những bí tích Vượt Qua để nuôi dưỡng chúng con; xin cũng ban Thánh Thần là nguồn mạch tình yêu, giúp chúng con biết tâm đầu ý hợp, và chân thành yêu thương nhau. Chúng con cầu xin…

56. Để giải tán, phó tế hoặc chính linh mục nói:

Phó tế hoặc linh mục

Lễ đã xong, chúc anh (chị) em ra vể bình an
Hallêluia. Hallêluia

Câu giải tán này dùng cho đến hết Chúa nhật II Phục sinh.

Nguồn: simonhoadalat.com

About these ads

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s